Triết lý sống

Phàm làm việc gì trước phải suy xét đến hậu quả của nó
Hành động của người quân tử là giữ tĩnh lặng để tu thân, cần kiệm để dung dưỡng đức độ. Không đạm bạc thì không thể có trí tuệ sáng suốt, không yên tĩnh thì không có chí vươn xa. Học thì phải cần yên tĩnh, muốn có tài năng phải học; không học thì không biết rộng, không có chí thì việc học không thành.

Mong muốn lan man thì không thể nảy sinh cái tinh túy, vội tìm cái hiểm hóc thì không nắm được cái thực tình. Thời gian tuổi tác qua nhanh, ý chí cùng ngày tháng trôi đi trở thành khô héo, phần lớn không tiếp cận được với thời đại, rồi buồn tủi nơi lều nát, sao còn khôi phục lại kịp cái chí hướng được nữa !

Tuesday, August 9, 2011

Phương pháp đầu tư cổ phiếu của Warren Buffett – Đáng để các nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam quan tâm

Hiện nay, sự sụt giảm mạnh mẽ giá cổ phiếu của các công ty niên yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đang khiến nhiều nhà đầu tư nản lòng. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia thì giá nhiều loại cổ phiếu đã xuống thấp hơn giá trị thật của công ty và đây cũng là cơ hội tốt để đầu tư. Hy vọng với phương pháp đầu tư cổ phiếu của Warren Buffett sẽ phần nào giúp nhà đầu tư vững tin hơn và thành công hơn trong công việc đầu tư của mình.

Trong lịch sử đầu tư của Hoa Kỳ nói riêng và của thế giới nói chung, tên tuổi của Warren Buffett đứng trên tất cả mọi người. Ông đã biến 106.000USD vốn liếng ban đầu thành 42 tỷ USD tài sản chỉ bằng sự đầu tư cổ phiếu.

Sinh ra ngày 30/08/1930 tại thành phố Omaha bang Nebraska; cha là Howard Buffett, một nhà môi giới chứng khoán đồng thời là một dân biểu quốc hội Mỹ và mẹ là Leila Buffett. Được sinh ra trong cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929, khi mà công ty đầu tư của cha ông ở Omaha gần như bị phá sản, ông đã sớm bị ám ảnh bởi đồng tiền. Mới còn bé mà đi đâu Warren Buffett cũng mang theo bên mình cái máy trò chơi đổi tiền, lúc nào cũng tính lãi đơn, lãi kép. Lên sáu tuổi Warren Buffett đã tập tành kinh doanh bằng việc mua bán vỏ chai Coca – Cola. Lên 11 tuổi Warren Buffett đã xin vào làm việc trong công ty môi giới chứng khoán của cha mình, cũng trong năm ấy Warren Buffett mua được 3 cổ phiếu ưu đãi (Preferred – Cổ phiếu được ưu tiên chia lời trước các cổ phiếu thường) ở mức giá 38USD/cổ phiếu và đã bán ra khi giá lên 40USD/cổ phiếu, chỉ vài năm sau giá cổ phiếu ấy đã tăng vọt lên đến 200USD, đối với Warren Buffett đây chính là bài học lớn về đầu tư dài hạn vào những công ty giỏi kinh doanh.

Năm 17 tuổi tốt nghiệp trung học, ba năm sau học xong chương trình đại học và sau đó học MBA (Master of Business Administration) - Thạc sỹ về quản trị kinh doanh tại trường đại học Colimbia. Với tư duy sắc sảo trong phân tích chứng khoán đã giúp Warren Buffett đạt được thành tích: là sinh viên duy nhất nhận được điểm A+ trong môn học phân tích chứng khoán (Seurity analysis).

Sau khi tốt nghiệp trường đại học Colimbia, Warren Buffett làm công việc phân tích đầu tư tại công ty đầu tư ở thị trường chứng khoán New York.

Đến năm 1956 Warren Buffett trở về thành phố quê nhà Omaha và thành lập công ty đầu tư hợp doanh có tên là Buffett Associates Ltd gồm 8 thành viên góp vốn, phần góp của Warren Buffett là 1.000USD và của 7 người kia là 105.000USD; Warren Buffett là hội viên hoạt động, người trực tiếp quản lý và điều hành công ty; 7 người kia là hội viên hữu hạn, chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của mình, không có quyền tham gia quản lý, không được quyền rút vốn khi công ty chưa giải tán. Với số vốn ít ỏi đó Warren Buffett đã biến nó thành 42 tỷ USD.

Ngày nay, cái tên Warren Buffett đã trở nên quá nổi tiếng. Nhưng chắc hẳn ít ai biết ông được xem là một nhà đầu tư giá trị luôn bình thản trước mọi sự thổi phồng, cường điệu và kích động trên thị trường. Ông không ngại ngần đầu tư vào các cổ phiếu được xem là tẻ nhạt, xuống giá, thậm trí đang ở trong tình thế xấu nhất. Một số nét lớn về phương pháp đầu tư của Warren Buffett:

1. Đầu tư vào công ty chứ không đầu tư vào cổ phiếu

Warren Buffett quan niệm rằng cổ phiếu chỉ là tờ giấy chứng nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty đó. Ông không đầu tư vào cổ phiếu mà đầu tư vào công ty. Nói một cách khác, ông hoàn toàn không quan tâm đến việc mua đi bán lại cổ phiếu trong thời gian ngắn. Thay vào đó là những công ty ông xác định là chiến lược của mình.

2. Đầu tư theo giá trị thực

Warren Buffett cho rằng về lâu dài, giá trị thị trường của cổ phiếu sẽ phản ánh giá trị nội tại của nó. Do đó, những cổ phiếu tốt là những cổ phiếu đang được thị trường định giá thấp hơn giá trị nội tại của nó. Theo ông khoảng cách giữa giá trị thị trường và giá trị nội tại càng lớn thì biên độ an toàn cũng như lợi nhuận mà nhà đầu tư nhận được từ cổ phiếu sẽ càng cao. Để có lợi nhuận là phải tính được giá trị thật hay giá trị nội tại của cổ phiếu hay công ty đó. Các nhà đầu tư nổi tiếng khác đôi khi đưa ra những công thức xác định giá trị thực theo kiểu của mình, dĩ nhiên dựa vào những công thức cơ bản, riêng Warren Buffett thì không đưa ra một công thức cụ thể nào của riêng mình. Do đó theo một số nhà nghiên cứu cho rằng công thức tính giá trị thực của Warren Buffett là một bí ẩn và một số nhà nghiên cứu khác lại cho rằng Warren Buffett sử dụng nguyên tắc xác định giá trị thật cơ bản như những nhà đầu tư phân tích tài chính khác.

Cái khác duy nhất làm cho ông thành công là ông nghiên cứu rất kỹ và sâu từng công ty ông sắp đầu tư. Ông đã từng nói:” Để là nhà đầu tư thành công, chúng tôi đọc hàng trăm, hàng trăm báo cáo thường niên của các công ty”. Ngoài những chỉ số tài chính, ông còn quan tâm hết sức đặc biệt đến vị trí, lợi thế cạnh tranh của công ty và năng lực lãnh đạo.

3. Những câu hỏi Warren Buffett đặt ra và tìm hiểu trước khi quyết định đầu tư

Công ty có phát triển tốt không? Có lợi thế cạnh tranh không? Warren Buffett chỉ muốn mua cổ phiếu của công ty có lợi thế cạnh tranh cao hoặc công ty dẫn đầu thị trường của ngành kinh doanh chính của nó, hay là có thương hiệu được khách hàng đánh giá cao. Ông không muốn đầu tư vào những công ty không có lợi thế cạnh tranh và chỉ có thể cạnh tranh bằng cách giảm giá bán. Warren Buffett còn xem xét công ty mà ông sắp đầu tư có nguy cơ bị công ty lớn mạnh khác nhảy vào cạnh tranh không .

Công ty đó có mô hình kinh doanh đơn giản không? Warren Buffett chỉ đầu tư vào các công ty có mô hình đơn giản, dễ hiểu, không quá phức tạp. Ông chỉ đầu tư vào những ngành mà ông biết rất rõ.

Lợi nhuận công ty có tốt, đang tăng trưởng ổn định không?

Tỷ số nợ trên vốn có tốt không? Đây là một trong những chỉ số mà Warren Buffett đặc biệt quan tâm. Ông chỉ đầu tư vào những công ty tạo ra mức lợi nhuận tốt.

Chi phí vận hành của công ty có ở mức chấp nhận được hay không?

Dòng tiền mặt để đầu tư có đủ lớn để tạo ra lợi nhuận và sự tăng trưởng?

Công ty có giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư hay không? Warren Buffett chọn mua cổ phiếu công ty giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư, ông cho rằng nếu như công ty đang sinh ra lợi nhuận tốt (bằng hay cao hơn mức lợi nhuận mong muốn) thì công ty đó nên giữ lợi nhuận lại để tái đầu tư. Khi đó công ty sẽ trở thành một máy in tiền với tốc độ ngày càng cao nhờ hiệu ứng tuyệt vời của lãi suất kép.

Ban quản lý giỏi, có tầm nhìn, có bề dày thành tích về quản lý kinh doanh, có đạo đức không? Warren Buffett chỉ đầu tư vào những công ty ông tin rằng ban lãnh đạo có năng lực.

4.Chọn thời điểm mua:

Warren Buffett không bao giờ vội vã mua những cổ phiếu có biên độ an toàn không rõ ràng. Thường thì ông sẽ đợi khi thị trường vào giai đoạn điều chỉnh hoặc khi thị trường đang thời kỳ giảm giá mạnh. Khi đó ông sẽ mua được cổ phiếu của công ty với giá thấp hơn giá trị nội tại của nó. Phương pháp đầu tư đơn giản này đã giúp ông thành công lớn và trở thành một trong những người có tài sản lớn nhất thế giới. Nó cũng giúp ông thoát được những tổn thất trong những giai đoạn mà hầu hết mọi người đều bị thiệt hại.

5.Những điểm không hoặc rất ít quan tâm trong đầu tư

Với chiến lược đầu tư nói trên, Warren Buffett không quan tâm nhiều đến sự lên xuống của giá cả thị trường chứng khoán cũng như chu kỳ kinh tế. Nói đúng hơn ông chỉ quan tâm đến việc lên xuống giá khi ông chọn thời điểm mua; khi đã mua rồi, ông không quan tâm đến sự lên xuống của giá nữa.

Một điểm khá đặc biệt là ông rất ít quan tâm đến việc đa dạng hóa danh mục đầu tư. Nhiều nhà đầu tư đã nghiên cứu và thực hiện thành công các phương pháp đa dạng hóa danh mục đầu tư tức là chọn nhiều cổ phiếu của các công ty khác nhau, ngành khác nhau có tác dụng bổ sung, tương hỗ nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất có thể trong khi giảm rủi ro đến mức thấp nhất. Warren Buffett không theo trường phái đa dạng hóa này, Ông cho rằng nếu đã chọn được doanh nghiệp tốt để đầu tư thì sẽ đạt lợi nhuận cao và rủi ro thấp. Việc đa dạng hóa danh mục đầu tư, tức là chọn thêm những cổ phiếu khác vào danh mục đầu tư sẽ giảm lợi nhuận cao tạo ra từ cổ phiếu chính yếu.

6. Những câu nói nổi tiếng của Warren Buffett

- “Rủi ro đến từ việc bạn không biết việc mình đang làm”.

- “ Giá là những gì chúng ta phải trả. Giá trị là những gì chúng ta nhận được”.

- “ Hãi sợ hãi khi những ngườc khác tham lam. Hãy tham lam khi những người khác sợ hãi’.

- “Nếu là nhà đầu tư bạn hãy tập trung vào việc công ty đó sẽ hoạt động kinh doanh như thế nào. Nếu là nhà đầu cơ, bạn hãy quan tâm đến giá trị thị trường của nó, và đó không phải là cách làm hay cuộc chơi của chúng tôi”.

Thi trường hạ giá: NĐT danh tiếng làm gì?


“Khách quan lắng nghe những điều thị trường nói với bạn thay vì cố chứng minh thị trường sai và bạn đúng. Phương pháp duy nhất mang lại hiệu quả là hãy để các chỉ số của thị trường thông báo thời điểm bạn nên tái gia nhập thị trường thay vì mò mẫm dò đáy". Đó là lời khuyên của William O'Neil, NĐT nổi tiếng đề xuất chọn mua cổ phiếu theo mô hình CANSLIM, dành cho các NĐT cá nhân trong thời gian thị trường bị đầu cơ giá xuống.
Qua nghiên cứu, O'Neil đã nhận ra khi các cổ phiếu hàng đầu trên thị trường đạt mức giá đỉnh điểm thì thị trường chung sẽ bắt đầu đổ dốc và giảm giá ít nhất 10%. Ông tổng kết, xu hướng chung của thị trường có ảnh hưởng tới từng cổ phiếu bất kể tốt xấu. Phát hiện này giúp ông ngừng giao dịch và rút ra khỏi thị trường trong giai đoạn 1970 -1971 và 1973 - 1974 khi TTCK Mỹ rơi vào khủng hoảng. Ông chỉ quay trở lại thị trường khi xu hướng tăng giá cấp 1 bắt đầu. Tháng 3/2000, O'Neil đã phất cờ đỏ trên nhật báo Investor's Business, báo động cho NĐT cá nhân biết các cổ phiếu dot.com và sinh học đã lên tới đỉnh tăng trưởng. Tuân thủ kỷ luật, chuyển sang nắm giữ tiền mặt và đứng quan sát ngoài thị trường đến tận năm 2003, NĐT cá nhân không phải hứng chịu thiệt hại nặng nề khi chỉ số Nasdaq giảm 53%, cá biệt các cổ phiếu dot.com mất giá tới 90%. "Không có lý do gì để tranh cãi với thị trường, nếu chống lại, NĐT cá nhân sẽ nhận một bài học đắt giá", O'Neil kết luận.

Jesse Livermore (1877-1940) một huyền thoại đầu tư khác có quan điểm tương đồng, ông cho rằng mình không có khả năng kiếm được lợi nhuận khi chưa xác định được chính xác xu hướng của thị trường. Là nhà đầu cơ kiệt xuất khi thị trường tăng giá và một bậc thầy bán khống cổ phiếu khi thị trường xuống giá nhưng đã khá nhiều lần Livermore ngồi trên một đống tiền mà không làm gì cả. Livermore không bao giờ mua cổ phiếu khi giá đang ở mức thấp. Ông chỉ mua cổ phiếu khi giá bắt đầu tăng, đột phá khỏi nền tảng cũ. Một trong số các nguyên tắc mà ông sớm rút ra từ khi còn rất trẻ: giao dịch hàng tuần, hàng ngày là việc làm của những người thất bại. "Trở thành người ngoài cuộc và quan sát tổng thể, bạn có thể nhận thấy những thay đổi trên thị trường tốt hơn là người ngày nào cũng dõi theo từng dao động nhỏ của thị trường", ông viết trong hồi ký.

Đối lập với O'Neil và Livermore, tỷ phú Warren Buffett tìm kiếm các cổ phiếu tiềm năng được giao dịch thấp hơn giá trị thật và mua trong biên độ an toàn. Xu hướng thị trường không phải là nhân tố có ý nghĩa quyết định khi ông chọn mua cổ phiếu. Tháng 2/1973, Buffett mua cổ phiếu của Washington Post Co (WPC) với giá 27 USD/CP và mỗi khi giá hạ ông lại mua thêm. Phố Wall đã phải chứng kiến thị trường tuột dốc dữ dội, Dow Jones giảm 40%, cổ phiếu WPC sụt giá xuống 20 USD. Tới tháng 10/1973, Buffett trở thành cổ đông bên ngoài nắm giữ nhiều cổ phiếu WPC nhất. Theo đánh giá của Buffett, không có chút mạo hiểm nào khi mua cổ phiếu của một DN trị giá 400 triệu USD đang được bán với giá 80 triệu USD. Buffett gọi quy tắc này là quy tắc Noah (tên con thuyền trong Kinh Thánh): Việc dự báo mưa lũ không quan trọng bằng việc đóng con thuyền vượt qua cơn lũ đó. Tuy nhiên, kể cả khi thị trường tăng giá, nếu không có thương vụ nào xứng đáng đầu tư, ông không làm gì cả. Tại cuộc họp thường niên năm 1998 của Berkshire Hathaway, Warren Buffett nói với các cổ đông: "Suốt nhiều tháng nay, chúng ta không có nhiều điều để nói về các khoản đầu tư vốn cổ phần. Nếu bạn hỏi chúng ta phải đợi bao nhiêu lâu nữa, tôi sẽ trả lời chúng ta đợi vô thời hạn. Chúng ta không phải mua chỉ để mà mua mà chỉ đầu tư khi biết chắc thương vụ đó mang lại lợi nhuận hấp dẫn. Chúng ta không tự đặt một giới hạn thời hạn nào cả".

Peter Lynch, cựu CEO nổi tiếng của Quỹ Fidelity Investments, có quan điểm giống Warren Buffett. Khi Peter Lynch lãnh đạo trong thời kỳ 1977-1990, Fidelity tăng trưởng với tỷ lệ sinh lời trung bình tới 29%/năm. Peter Lynch có niềm tin mãnh liệt vào đầu tư dài hạn và phớt lờ mọi biến động ngắn hạn trên TTCK. Trong cuốn "Trên đỉnh phố Wall" ông viết: "Thật kỳ diệu nếu tránh được những cơn sụt giá, chỉ cần chúng ta bán ra đúng thời điểm và thu tiền về. Nhưng chưa ai chỉ cho tôi, làm cách nào để dự đoán được những cơn sụt giá này. Hơn nữa, nếu bạn bán cổ phiếu và tránh được một trận sụt giá thì làm thế nào bạn có thể quay lại mua cổ phiếu ở giai đoạn tăng giá kế tiếp?". Nói về ngày thứ Hai đen tối, 19/10/1987, chỉ số Dow Jones mất 508 điểm, giảm tới 22,6%, Peter Lynch cho rằng, các tổn thất chỉ đến với những NĐT ngắn hạn bán tháo cổ phiếu. Sau đợt sụt giá bất ngờ và tạm thời đó, đến tháng 6/1988 thị trường đã hồi phục, tăng 32%.

Có thể thấy, mỗi NĐT lớn đều có một cách ứng xử riêng với xu hướng thị trường, phù hợp với phương pháp đầu tư của họ: Livermore không bao giờ tham gia TTCK khi thị trường đi ngang; O'Neil rất hiếm khi nắm giữ cổ phiếu khi thị trường giảm giá, ông luôn tìm cách bán cổ phiếu từ rất sớm, trước khi các vết nứt lan rộng; Peter Lynch chủ trương chọn mua cổ phiếu tiềm năng, phớt lờ mọi biến động ngắn hạn; Warren Buffett chủ trương mua và nắm giữ cổ phiếu lâu dài... Các NĐT giỏi giống như những người đi tìm vàng lâu năm, họ có ý tưởng khái quát về việc tìm kiếm, biết ở đâu và khi nào cần bổ nhát cuốc quyết định. Còn bạn suy nghĩ và hành động ra sao trong một thị trường giảm giá?

ĐTCK

Các tỷ phú đang rót tiền vào đâu?

Nhà đầu tư tỷ phú lừng danh Warren Buffett từng nói: “Hãy lo sợ khi kẻ khác tham lam, và hãy tham lam khi người ta lo sợ”.



Trong thời gian khủng hoảng này, không ít tỷ phú lắm tiền mặt và “gan dạ” đang đi theo lời khuyên trên của Buffett. Mỗi người trong số họ chọn một vài lĩnh vực khác nhau để rót những khoản vốn khổng lồ.



Đầu tư trong khủng hoảng
Tỷ phú Carl Icahn của Mỹ đang chọn các lĩnh vực giải trí để đầu tư ở thời điểm này. Trước đó, ông đã nắm giữ cổ phần trong nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều lĩnh vực như công nghệ sinh học, kim loại, thời trang…
Hiện nhà tài chính này đang ra giá 325 triệu USD để mua thêm cổ phần có thể chuyển đổi trong hãng phim Lions Gate Entertainment của Mỹ, sau khi đã nâng mức cổ phần nắm giữ của ông trong hãng này lên mức 14,5% ở đầu năm nay. Lo ngại mất quyền kiểm soát vào tay Icahn, hãng Lions Gate mới đây đã thuê một nhóm các chuyên gia tư vấn để ngăn cản vụ mua lại này.
Ngoài ra, Icahn còn cùng với một nhóm các nhà đầu tư khác lên kế hoạch mua lại sòng bạc đang gặp khó có tên Tropicana Casino and Resort ở thành phố Atlantic, bang New Jersey, Mỹ. Dự kiến, sòng bạc này sẽ nộp đơn xin bảo hộ phá sản trong vài tuần tới.
Một nhà đầu tư khác, tỷ phú Wilbur Ross của Mỹ, cũng đang liên tiếp thực hiện các vụ mua lại, bất chấp đã chịu lỗ 500 triệu USD chỉ trong vòng 6 tháng gần đây do thị trường chứng khoán đi xuống.
Vào tháng Một vừa qua, tỷ phú này chi 7,3 triệu USD để mua lại cổ phần kiểm soát trong ngân hàng First Bank & Trust có trụ sở ở bang Florida. Tháng 9 năm ngoái, ông đầu tư 80 triệu USD vào hãng hàng không giá rẻ SpiceJet của Ấn Độ. Hiện quá trình săn lùng những vụ mua lại giá bèo của tỷ phú này vẫn đang diễn ra, nhưng chủ yếu trong lĩnh vực dịch vụ tài chính.
Tỷ phú trong lĩnh vực khách sạn của Saudi Arabia, Mohamed Al Jaber, đang trong quá trình đàm phán để mua lại toàn bộ 12 khách sạn hạng sang ở Pháp của tập đoàn Starwood với giá khoản 2,6 tỷ USD. Đề xuất được Al Jaber công bố tháng 10 năm ngoái này có thể sẽ bổ sung thêm một trong những khách sạn lâu đời nhất ở châu Âu, khách sạn Paris' Hôtel de Crillon, vào danh sách dài những tài sản bất động sản mà ông đã thâu tóm được ở châu lục này.
“Tôi luôn có chủ ý mua lại những khách sạn cao cấp ở những vị trí đắc địa, đảm bảo những tài sản này sẽ gia tăng giá trị trong tương lai gần”, Al Jaber nói.
Những tỷ phú tham gia cuộc tìm kiếm các cơ hội mua lại giá hời hiện nay còn có tỷ phú thực phẩm người Mỹ gốc Hy Lạp John Catsimatidis, tỷ phú ngân hàng Gerald Ford, hay nhà tài phiệt Nga Mikhail Prokhov…
Tỷ phú Catsimatidis đã mua lại công ty giao dịch năng lượng SemGroup bị phá sản cách đây chưa lâu và hiện đang nỗ lực tái cơ cấu công ty này. Là một nhà đầu tư dũng cảm trong lĩnh vực ngân hàng, tỷ phú Ford đang tìm tiếm đối tượng mua lại trong ngành này. Trong khi đó, tỷ phú Prokhorov cũng đã mua lại cổ phần tương đối lớn trong ngân hàng đầu tư Renaissance Capital với giá 5 tỷ USD vào cuối năm ngoái.
Trên thực tế, việc dám mạo hiểm đầu tư những khoản lớn ở thời điểm kinh tế khó khăn đã đem về những món lời hàng tỷ USD cho những nhà đầu tư ngược xu hướng thị trường nổi tiếng nhất thế giới, bao gồm Icahn, Buffett và cả nhà quản lý quỹ đầu cơ, tỷ phú George Soros. Người ta cho rằng, vào năm 1992, vụ đầu tư trong đó Soros cho rằng đồng Bảng Anh sẽ mất giá mạnh đã giúp ông kiếm được 1 tỷ USD trong vòng có 1 ngày.

Còn phải chờ xem
Hiện còn quá sớm để kết luận những vụ đầu tư nào trong thời gian gần đây sẽ đem lại lợi nhuận, nhưng chắc chắn một vài tỷ phú đã hành động quá sớm.
Trong thời kỳ đầu của cuộc khủng hoảng hiện nay, nhiều tỷ phú nổi tiếng đã gấp gáp tung phao cứu sinh cho những tập đoàn gặp khó, chẳng hạn Hoàng tử Alwaleed của Saudi Arabia tuyên bố tăng gấp đôi mức cổ phần nắm giữ trong ngân hàng Citibank, nhà tài chính người Anh Joseph Lewis mua cổ phần 10% trong ngân hàng đầu tư Bear Stearns giờ đã không còn tồn tại, hay tỷ phú địa ốc Sam Zell tiếp quản công ty báo chí mới đây xin bảo hộ phá sản Chicago Tribune.
Cả ba tỷ phú này tính tới thời điểm hiện tại đều đã mất tiền vì sự mạo hiểm của mình. Triển vọng họ có thể thu hồi vốn xem ra cũng rất u ám.
Những tỷ phú có các vụ đầu vụ đầu tư trong thời gian gần đây đã tỏ ra thận trọng hơn. Khi ông hoàng Mansour bin Zayed Al Nahayan của Các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE) đầu tư vào ngân hàng Barclays của Anh và tỷ phú truyền thông người Mexico Carlos Slim Helu đầu tư vào tờ New York Times của Mỹ, họ đều mua cổ phiếu có thể chuyển đổi.
Cổ phiếu này mang đến cho hai nhà đầu tư trên mức cổ tức hấp dẫn 14% mỗi năm cho tới khi được chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông vào năm 2014 và 2015. Cả hai nhà đầu tư này sẽ không phải chịu thiệt hại nếu giá cổ phiếu của các công ty trên tiếp tục sụt giảm trong ngắn hạn.
Tỷ phú Buffett cũng có một vụ đầu tư tương tự khi mua lượng cổ phiếu ưu đãi trị giá 5 tỷ USD trong ngân hàng Goldman Sachs vào tháng 10 năm ngoái. Cổ phiếu ưu đãi không thể chuyển đổi được thành cổ phiếu phổ thông, nhưng có mức cổ tức 10% mỗi năm.
Một số tỷ phú khác như Nicolas Berggruen, Tom Hicks và Nelson Peltz thì không bỏ tiền túi ra để đầu tư lúc này, nhưng sử dụng công cụ là các công ty mua lại có mục đích đặc biệt (special-purpose acquisition company - SPAC) để huy động vốn. Những định chế đầu tư đặc biệt này về bản chất là những công ty rỗng vốn, nhưng tiến hành phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) và sử dụng tiền huy động từ đó cho hoạt động mua lại.
Chẳng hạn, tỷ phú Berggruen đã huy động được 528 triệu USD qua một SPAC vào tháng 12 năm 2006 và sử dụng số tiền này để tiến hành IPO quỹ đầu cơ GLG Partners trên thị trường chứng khoán New York 6 tháng sau đó. Hiện tỷ phú này đang có trong tay khoảng 1,8 tỷ USD để phục vụ cho mục đích mua lại.
Tuy nhiên, Berggruen chỉ còn thời gian vài tháng để tiêu số tiền này, vì theo quy định, các SPAC phải tiến hành các vụ mua lại trong vòng 2 năm kể từ khi IPO, nếu không sẽ bị buộc phải thanh lý.
Tới lúc này, chưa ai có thể biết các tỷ phú trên có thể biến những cơ hội đầu tư ở thời điểm hiện nay thành lợi nhuận. Có lẽ, phải mất vài năm nữa người ta mới có thể kết luận chính xác về những vụ đầu tư này.
Tuy nhiên, có một điểm chắc chắn là, việc các tỷ phú chọn thời điểm và nơi chốn để rót tiền sẽ được thị trường theo dõi chặt chẽ và được xem như một dấu hiệu về sức khỏe của nền kinh tế thế giới.

Kinh nghiệm đầu tư chứng khoán của Warren Buffett


Warren Buffett sinh năm 1931 ở một thị trấn nhỏ tên là Ohama. Gia đình ông có mối quan tâm lớn đến thị trường chứng khoán.

Ông học được bài học lớn đầu tiên về đầu tư chứng khoán vào năm 11 tuổi khi “gà” cho người chị của mình đầu tư toàn bộ “tài sản” riêng (100 đôla) mua 3 cổ phiếu (với giá 38 đôla/cổ phiếu) của một công ty nhỏ. Giá cổ phiếu công ty này sau đó tụt giảm mạnh và người chị đã rất lo sợ, muốn bán ngay để gỡ gạc lại chút vốn còm, trong nỗi ân hận nghe lời đứa trẻ xui dại.

May thay, giá cổ phiếu đó đã tăng trở lại và cậu bé đã vội bán với giá 40 đôla/cổ phiếu, thu lãi được chút đỉnh cho người chị sau khi trừ phí giao dịch. Điều làm ông bực mình nhất là giá cổ phiếu đó còn tăng lên đến 100 đôla sau một thời gian ngắn. Đứa trẻ Buffett đã phải chịu thua áp lực của khách hàng, nhưng cậu ta cũng học được một bài học có giá trị từ đây.

Khi đã thành một nhà đầu tư chuyên nghiệp, Buffett hiếm khi nói cho khách hàng biết ông đang làm gì với tiền của họ bởi vì điều này chỉ làm họ lo lắng thêm – và chỉ ngăn cản ông đưa ra những quyết định lạnh lùng, tỉnh táo để tăng thêm lợi nhuận cho họ.

Ở tuổi thanh niên, đang học tại Đại học Pennsylvania, Buffett đã tích góp đủ tiền để đầu tư mua đất tại Nebraska. Tư tưởng thích kiếm tiền từ thuở bé đã làm ông không dừng ở đây. Ông đã liên hệ để trao đổi ý tưởng với và xin làm việc cho Benjamin Graham, lúc đó đang điều hành một doanh nghiệp đầu tư 4 người, có lẽ là “tiệm đầu tư” đầu tiên cho đến lúc đó.

Graham là người khởi xướng cho khái niệm tìm kiếm các giá trị ẩn tàng. Ông chú mục vào 2 chỉ tiêu chính: tỷ trọng hàng tồn kho trên doanh thu và tỷ trọng nợ trên vốn góp cổ đông. Graham từ chối đầu tư vào các công ty có nợ nhiều hơn vốn cổ đông. Ông cũng tin rằng có thể tìm ra những công ty mà giá trị ròng của nó không phản ánh qua giá trị cổ phiếu.

Buffett hấp thu những tư tưởng này của Graham, cũng như của Phillip Fisher – một nhà đầu tư rất thành công. Ông này quan tâm đến trình độ quản lý của lãnh đạo doanh nghiệp thể hiện qua các tài khoản và tỷ lệ tồn kho. Fisher có một nguyên tắc mà Buffett không bao giờ quên: Nhà đầu tư vào một công ty nào đó chỉ nên làm hậu thuẫn cho các nhà quản lý giỏi của công ty, chứ không được tự mình quản lý công ty đó.

Ở tuổi 25, Buffett đã thuyết phục thành công hàng xóm của mình ở Ohama góp 100.000 đôla (tương đương với 1 triệu đôla giá hiện tại) vốn đầu tư với mình. Ông thỏa thuận với các đối tác là sẽ mang lại ít nhất 6% lãi, và ông sẽ được hưởng 25% trên số lãi vượt mức 6% này.

Trong một bức thư gửi các đối tác, ông viết: “Tôi không thể cam đoan về kết quả đầu tư với các ông, nhưng tôi có thể và xin cam đoan rằng: (i) các khoản đầu tư của chúng ta sẽ được lựa chọn trên cơ sở giá trị; (ii) mô thức đầu cơ của chúng ta sẽ cố gắng làm giảm thiểu thua lỗ vốn vĩnh viễn (chứ không phải thua lỗ danh nghĩa trong ngắn hạn)”.

Buffett đã mang lại cho các đối tác hơn 6% lợi nhuận. Những đối tác đầu tiên này đều đã trở thành triệu phú. Ước tính có đến 52 người ở ở Ohama đã thành triệu phú nhờ đầu tư với Buffett trong một vài năm đầu tiên.

Tuy nhiên, năm 1969, Buffett quyết định thời vận của mình đã chấm dứt, trong bối cảnh thị trường chứng khoán trở nên nóng bỏng trong suốt thập kỷ 60, làm cho nhiều loại chứng khoán trở nên quá đắt đỏ. Ông rút lui khỏi thị trường và phải khổ sở với hiện thực là hầu như không còn đầu tư chứng khoán nữa.

Sự rút lui này quả là đúng lúc, và ông đã không bị mất tiền trong cơn suy thoái của thị trường năm 1973-74. Đây cũng là cơ hội tuyệt vời để mua chứng khoán với giá thấp cho đến tận cuối năm 1974.

Khi Buffett trở lại thị trường, ông nói cảm giác lúc đó “như một gã đàn ông lạc vào chốn cấm cung toàn phụ nữ”, khi có quá nhiều cơ hội. Tất cả những khỏan đầu tư mới sau này, chủ yếu là ngành truyền thông, đều rất thành công.

Có thể lý giải một phần động cơ đầu tư của ông vào ngành truyền thông là bắt nguồn từ truyền thống gia đình (cha và ông của Buffett đều là những nhà sản xuất, biên tập báo chí). Nhiều trong số ý tưởng đầu tư của ông cũng bắt nguồn từ cái gốc gác dân “tỉnh lẻ” của mình. Ông ghét những công ty nào hay thay đổi cái hay cách thức họ đang làm. Sự ổn định là một dấu cộng. Những cái tên lớn ở Mỹ cũng vậy. Vì thế 2 trong số những khoản đầu tư thành công của ông là Coca Cola và Walt Disney, 2 biểu tượng của Mỹ.

Nhìn từ khía cạnh tâm lý học thì Buffett là một con chiên của chủ nghĩa hình thái. Ông nhấn mạnh rằng bạn phải tập trung vào các ưu điểm của một công ty trong một khối tổng thể, thay vì chỉ nhìn vào, ví dụ, cái giá mà mình sẽ thu được khi chia nhỏ và bán các tài sản khác nhau của nó.

Một trong những ví dụ về tư tưởng này là việc ông đầu tư vào American Express. Năm 1982, hãng này bị thua lỗ lớn vì vướng vào một vụ tai tiếng liên quan đến dầu trộn salad. Giá cổ phiếu của nó giảm mạnh từ 62 USD xuống còn 35 USD. Thiên hạ đồ rằng hãng này sắp bị phá sản, và báo chí thì liên tục đổ thêm dầu vào lửa.

Buffett nhìn sự việc lạnh lùng hơn. Ông phân tích các ngành kinh doanh cơ bản của hãng này – du lịch, thẻ tín dụng, séc lữ hành. Những lĩnh vực này không bị ảnh hưởng bởi vụ tai tiếng trên. Là một người theo chủ nghĩa hình thái, ông nhìn toàn bộ hãng và cho rằng nó vẫn tốt. Thị trường đã quá hoảng sợ và phóng đại mức độ nghiêm trọng của thảm họa. Ông đã mua rất nhiều cổ phiếu của hãng này và trong vòng ít năm, giá của nó đã tăng từ 35 USD lên 189 USD.

Một trong những tư tưởng chính của Warren Buffett là cuối cùng thì giá trị thực của cổ phiếu sẽ được phản ánh qua giá thị trường. Thủ thuật ở đây là phải nhìn ra được giá trị thật của nó trước người khác, rồi mua rẻ – và sau đó phải sẵn sàng chờ đợi thời cơ. Tất nhiên nhìn ra được giá trị thực của cổ phiếu không phải đơn giản vậy – và ông không bao giờ tiết lộ các phép tính chi tiết ông sử dụng để đánh giá giá trị thực của một công ty và dự đoán giá của nó sẽ lên đến bao nhiêu.

Tuy vậy, cũng cần biết rằng Buffett có một số kiêng kỵ. Ông thừa nhận rằng có “vận đen” trong một số ngành như bán lẻ. Gốc gác “nhà quê” cũng làm ông rất lo ngại với cổ phiếu nông nghiệp vì ông biết rõ là nhà nông thường có mức tồn kho lớn, một điều mà Graham tối kỵ.

Khi đã trở thành người nổi tiếng, Buffett luôn nhấn mạnh sự bình dị của mình. Ông sống ở Ohama trong ngôi nhà ông mua từ những năm 50. Dưới đây là một trong số những phương châm của ông được nhắc đến nhiều nhất:

- Nguyên tắc 1: Không bao giờ để mất tiền

- Nguyên tắc 2: Không bao giờ được quên nguyên tắc 1

Và một câu nói mang tính tôn giáo: “Thị trường như Chúa cứu giúp những ai tự cứu giúp mình. Nhưng khác với Chúa, thị trường không tha thứ cho những ai không biết phải làm gì”.

Những câu nói trên củng cố thêm hình ảnh bình dị của Buffett như bất kỳ một người Mỹ bình thường nào khác. Tuy vậy, nhiều người biết rõ đây là một hình ảnh bị bóp méo đôi chút. Không phải ngẫu nhiên có tác giả đã đặt tên cho cuốn sách của mình về Buffett là “The Midas Touch” (tạm dịch: “Cái chạm của Midas”).

Những nguyên tắc đầu tư của Buffett xem ra có vẻ đơn giản nhưng để thực hiện được chúng thì phải có toàn bộ sự nhiệt thành, cam kết, và sự tập trung cao độ vào thị trường, một năng lực tính toán hơn người, và sự tiếp cận với những thông tin mà bình thường là điều bất khả đối với những ai ít có các quan hệ.

Monday, August 8, 2011

Đoán số mệnh

XUẤT XỨ: Khoa này tục truyền của các Thiền Sư Trung Hoa làm ra dùng để kén chọn các tăng đồ nhưng vì nó quá hay và quá giản dị nên được nhiều người dùng thay thế cho Tử-vi khi cần quyết đoán gấp.

Do kẻ bảng không được, quý bạn đọc hãy tưởng tượng như trong bản lá số Tử-vi có 12 cung , mỗi cung gồm có các sao, sau đây :

  • Cung Tý : THIÊN-QUÝ, PHẬT ĐẠO
  • Cung Sửu : THIÊN-ÁCH, QUỶ-ĐẠO
  • Cung Dần : THIÊN-QUYỀN, NHƠN ĐẠO
  • Cung Mẹo : THIÊN-PHÁ, SÚC-ĐẠO
  • Cung Thìn : THIÊN-GIAN, TU LA
  • Cung Tị : THIÊN-VĂN, TIÊN ĐẠO
  • Cung Ngọ : THIÊN-PHƯỚC, PHẬT-ĐẠO
  • Cung Mùi : THIÊN-DỊCH, QUỶ-ĐẠO
  • Cung Thân : THIÊN-CÔ, NHƠN-ĐẠO
  • Cung Dậu : THIÊN-NHẪN, SÚC-ĐẠO
  • Cung Tuất : THIÊN-NGHỆ, TU LA
  • Cung Hợi : THIÊN THỌ, TIÊN ĐẠO

Chú ý :

Dùng năm, tháng, ngày, giờ sinh để tính :
v Trên năm tính tháng, trên tháng tính ngày, trên ngày tính giờ.
v Nam thuận, Nữ nghịch.

Trùng cung hay trùng sao là gặp hai lần cùng vị sao hay cùng một cung xấu.

Nếu gặp 03 đạo hay 03 sao giống nhau thì rất tốt.

CÁCH DÙNG :P hải biết một cách chính xác, năm tháng ngày giờ sinh theo âm lịch. Ở hình 12 cung như đã nêu theo địa chi : Tý, Sửu, Dần ….Ai sinh năm nào thì lấy ngay ô có ghi chữ làm năm sinh

- Ví dụ : Sinh năm Kỷ Tỵ thì lấy ngay cung Tị . Lây ô đó làm khởi điểm tính tháng, ví dụ :Sinh tháng 1 thì vẫn ở cung Tị, sinh tháng 2 ở cung Ngọ, nếu sinh tháng 10 chẳng hạn sẽ nằm ở cung Dần. Lấy cung đó làm khởi điểm tính ngày, ví dụ : Nếu sinh ngày 1 thì ở cung Dần, mùng 2 ở cung Mẹo, nếu ngày 26 chẳng hạn sẽ ở cung Mẹo.

Lấy cung đó, làm khởi điểm tính giờ. Ví dụ : Nếu sinh giờ Tý sẽ ở cung Mẹo, giờ Sửu ở cung Thìn, nếu giờ Tuất chẳng hạn sẽ ở cung Sửu.

Tóm lại, theo quy tắc : Trên năm tính tháng, trên tháng tính ngày, trên ngày tính giờ.

CHÚ Ý : Nếu là Nam thì tính tháng ngày giờ theo Chiều Thuận nghĩa là theo thứ tự : Tý, Sửu, Dần . v.v…. Còn nếu là Nữ thì phải tính theo Chiều Nghịch lại.

VÍ DỤ 1 : Nam sinh ngày 26/10/KỶ TỊ, Giờ Tuất (theo chiều thuận) sẽ có như sau :
- Năm Tỵ ở cung Tỵ : TIÊN ĐẠO – THIÊN VĂN
- Tháng 10 ở cung Dần : NHƠN ĐẠO – THIÊN QUYỀN
- Ngày 26 ở cung Mẹo : SÚC ĐẠO – THIÊN PHÁ
- Giờ Tuất ở cung Sửu : QUỶ ĐẠO – THIÊN ÁCH

VÍ DỤ 2 : Nữ sinh ngày 15/07/TÂN MÙI, Giờ Sửu (theo chiều nghịch) sẽ có như sau :
- Năm Mùi ở cung Mùi : QUỶ ĐẠO – THIÊN DỊCH
- Tháng 7 ở cung Sửu : QUỶ ĐẠO – THIÊN ÁCH
- Ngày 15 ở cung Hợi : TIÊN ĐẠO – THIÊN THỌ
- Giờ Sửu ở cung Tuất : TU LA – THIÊN NGHỆ

CÁCH ĐOÁN : Mỗi ĐẠO hay một THIÊN đều có ý nghĩa khác nhau và được giải thích sau đây. Các bạn coi và tổng hợp cả cái hay lẫn cái dở để có cái nhìn tổng quát trong cuộc đời của mỗi con người.

1- PHẬT ĐẠO

Tánh tính lương thiện, lòng hay thương đời, hay làm phước. Xem người như mình lấy sự chân thật ăn ở nên suốt đời không làm ai buồn phiền.

2- QUỶ ĐẠO

Thông minh, linh tánh, việc gì cũng chỉ thoáng qua là biết, tính hay cương không chịu ai xúc phạm tới mình. Hạp bậc đại nhân bị tiểu nhân ganh ghét.

3- NHƠN ĐẠO

Nghĩa hiệp, thiện lương, biết kính Trời Phật Thánh Thần. Có chức tước quyền hành nhưng biết cách cư xử phải đạo, trọng người trên và thương yêu giúp đỡ kẻ dưới, lại rất nghĩa khí nên ai cũng mến yêu. Chịu đựng được mọi người, mọi nết.

4- SÚC ĐẠO

Tánh cứng cỏi, tự ý chủ trương theo ý riêng không sợ ai chê khen giỏi dở. Tâm ý thay đổi bất thường, khi thì tham lam, khi thì bỏn xẻn, ít khi rộng rãi.

5- TU LA

Dũng mãnh như cọp dữ vừa ra khỏi hang. Ham thích điều lành nhưng lại quyết chí đương đầu với ai điều làm dữ, chứ không chịu nhịn nhục. Không sợ cường quyền hay thế lực.

Nếu ai có tới Ba lần Tu La thì đó là bậc dõng tướng.

6- TIÊN ĐẠO

Ưa nhàn hơn mọi sự; thích ngao du nơi thắng cảnh non nước thoát tục. Nhờ thế tâm trí thường yên vui tự tại, ít có sự buồn phiền khổ não lâu dài. Nếu đột nhiên gặp cơ duyên (xúc động vì chuyện chi ! ; gặp kinh sách hay người chỉ dẫn …) sẽ bỏ thế gian để chuyên lo tu hành và sẽ đắc đạo

- Ai gặp ba lần Tiên Đạo thì căn tu lớn lắm chắc chắn sẽ được giải thoát (!?)

7- THIÊN QUÝ

Sao này chủ sự cao quý thanh nhàn. Mọi sự tốt đẹp, không có gì trở ngại, làm việc chi cũng giữ mực trung hòa, địa vị thanh cao. Một đời an ổn, hay gặp sự lành, thung dung tự tại, hòa hợp với mọi người.

- Nếu được thêm : Thiên Quý, Thiên Dịch, Thiên Phước sẽ giàu sang vô cùng

- Nếu phạm cung hay sao trùng nhau (2 lần y như nhau) thì lại xấu. Giàu sang mà lại như không, thêm bị kẻ tiểu nhân ghét hại.

- Gặp Thiên Phá, Thiên Ách, Thiên Cô thì tiền của hạng bình thường.

8- THIÊN ÁCH

Chủ sự mang tật, xa cách quê hương tổ nghiệp. Vận mạng khốn cùng, mù mịt chậm chạp, khó khăn trễ nãi, phải mang tật mới sống lâu. Làm ăn khổ cực.

- Nếu gặp 3 sao : Thiên Quyền, Thiên Phước, Thiên Thọ thì khỏi mang tật và trở lại tốt (vì đã hóa giải …)

- Nếu trùng cung hay sao thì lại càng thêm xấu.

- Gặp Thiên Nhẫn, Thiên Phá ắt mang tật.

- Gặp Thiên Cô, Thiên Dịch phải xa quê, lại mang tật kín mới làm nên cơ nghiệp.

9- THIÊN QUYỀN

Chủ thông minh, lanh lợi, nhiều trí hóa, tài năng có quyền hành, lòng chơn thật. Tánh tình cương quyết mạnh dạn, chỉ căn cứ ở quyền hành, luật pháp mà làm việc chứ không chịu chiều theo nhơn tình. Một tiếng hô cả trăm người dạ . Tóm lại có quyền chức và được tùng phục. Người trên ưa, kẻ dưới sợ nhưng ghét.

- Gặp các Thiên Quý, Thiên Phước, Thiên Nhẫn thì được người ta tin tưởng và ủng hộ.

- Nếu trùng cung hay sao trở lại không quyền.

- Gặp Thiên Cô,Thiên Phá, Thiên Dịch, Thiên Ách phải chịu nhọc sức trong mọi việc, tiền tài khó tụ, thiếu ăn thiếu mặc.

10- THIÊN PHÁ

Chủ hao tốn, hư phá. Dù có thừa hưởng gia tài lớn lao cũng bị nghèo khổ. Toan tính lớn lao, chung quy chỉ có tiếng mà không có miếng,

- Gặp Thiên Quý, Thiên Phước, Thiên Thọ trở lại sang giàu.

- Trùng cung hay sao là hạ mạng, trôi nổi, cực nhiều mà hưởng ít.

- Gặp Thiên Dịch, Thiên Nhẫn, Thiên Cô thì xấu lắm.

11- THIÊN GIAN

Chủ lao lực trong việc làm. Tánh cơ xảo, quyền biến khó mà độ lượng nổi. Gian xảo, trí trá, miệng ngọt mà lòng ác.

- Gặp Thiên Quý, Thiên Thọ, Thiên Phước, Thiên Quyền, Thiên Nhẫn thì nhờ giỏi tính toán mà phát tài lớn lao.

- Trùng cung hay sao, hạ mạng, rất vô tình ?

- Gặp Thiên Phá, Thiên Ách, Thiên Cô, Thiên Dịch nói trắng làm đen, lòng lang dạ thú, cố chấp dám làm đủ thứ ác miễn cho có lợi về mình.

12- THIÊN VĂN

Chủ trí tuệ, học nghiệp phi phàm, làm việc điều hòa tốt đẹp. Thanh cao, phong khí tuấn tú trang nghiêm, thông minh đầy đủ văn chương tao nhã, nếu là Nam. Nhu thuận, hòa nhã, được mọi người yêu chuộng, nếu là Nữ.

- Gặp Thiên Quyền, Thiên Ách thì lại càng thêm lạnh lợi

- Gặp Thiên Quyền, Thiên Quý, Thiên Phước thì là hạng cao sang quyền quý, chung thân yên ổn vui mừng.

- Trùng cung hay sao, học nhiều làm ít, thành công trở lại hạng bình thường. Đàn bà trùng cung mang số Đào hoa hay hai đời chồng.

- Gặp Thiên Dịch, Thiên Phá, Thiên Cô thì phiêu liêu trôi nổi, lao lực mà không yên.

13- THIÊN PHƯỚC

Chủ ôn hòa, lương thiện, thanh tú, căn cơ lớn có nhiều phước đức. Lòng dạ ngay thẳng, tin Trời Phật, ăn ở có hậu, đạo đức, từ bi, sáng suốt. Đấy đủ tiền tài phước lộc lại biết cách ăn ở hợp đạo nghĩa nên hưởng phước báo lâu dài.

- Gặp Thiên Quyền, Thiên Quý, Thiên Nhẫn lại càng thêm giàu.

- Trùng sao hay cung, hạ mạng, chịu cảnh cô đơn vì không được ai thương hay giúp đỡ.

- Gặp Thiên Dịch, Thiên Ách, Thiên Cô thì thêm tham lam bỏn xẻn.

14- THIÊN DỊCH

Chủ thay đổi, di chuyển, phải xa cách cha mẹ hay anh em … gian truân trôi nổi, thân tâm lao lực, tự lực lo toan. Vì cơ nghiệp mà phải lặn lội cực khổ, phải đem hết tâm trí sức lực ra làm việc ?

- Gặp Thiên Quý, Thiên Phước, Thiên Quyền, Thiên Thọ, Thiên Nhẫn thì trở lại thành Thượng mạng rất tốt.

- Trùng cung hay sao thì thành tu sĩ hay đạo sĩ .

- Gặp Thiên Cô, Thiên Ách, Thiên Gian thì là hạ mạng, xấu lắm.

15- THIÊN CÔ

Chủ cô độc, táo bạo cang cường. Nếu có sao tốt sẽ trở thành rất tốt. Gia đình không toàn vẹn, xa cách hay mồ côi các người thân. Khắc vợ con, nếu có sao tốt thì giảm đi vài phần.

- Trùng cung hay sao thì cô độc mà lại không cô độc, hay nửa đạo nửa đời. Mạng Nam rất sợ gặp sao Thiên Cô với Thiên Dịch. Mạng Nữ thì tối kị Thiên Cô đi với Thiên Nhẫn, Thiên Phá, Thiên Ách. Nếu không có sao tốt đi theo ắt làm chuyện ô nhục.

- Gặp Thiên Quyền, Thiên Quý, Thiên Nhẫn, Thiên Thọ trở nên Thượng mạng chỉ khắc cha mẹ lúc tuổi nhỏ mà thôi, có thể đi tu trong thời gian ấy.

- Gặp Thiên Phước, Thiên Quý, thì hết xấu. Gặp Thiên Quyền, Thiên Thọ cũng tốt.

16- THIÊN NHẪN

Chủ sự nhẫn tâm, cứng cỏi quá đáng, ưa tranh phải trái, hung hăng, háo thắng, dao to búa lớn không những ở lời nói mà cả ở hành động. Tánh háo thắng nhưng gan dạ cứng cỏi, lòng dạ ngay thẳng, tuy chẳng chịu cho ai khuyên bảo nhưng lại hay quên, nóng xong là quên ngay chứ không thù dai. Vì tranh hơn thua mà quên cả thân mạng.

- Gặp Thiên Phá, Thiên Cô thì trở nên thái quá, dám làm những việc hung bạo đến tuyệt tình nghĩa, số phải mang bịnh và sa đọa.

- Gặp Thiên Quý, Thiên Quyền, Thiên Phước, hóa ra bậc Thượng nhơn, có mực thước, không làm gì trái lễ nghĩa, không bị khinh khi, dám đương đầu với mọi sự để bảo toàn danh dự.

17- THIÊN NGHỆ

Chủ tú khí, nhiều tài năng, giàu sang. Tâm tánh thông minh, sáng láng, có tài năng về nghề nghiệp, hoạt bát, có chí khí, hay xê dịch và làm việc rất hay, được mọi người mến chuộng.

- Trùng cung hay sao thì ngu si, hà tiện.

- Gặp Thiên Dịch, Thiên Cô thì xấu, biết nhiều mà làm việc lại hay thất bại. Lại có chỗ hối hận không chừng.

- Gặp Thiên Quý, Thiên Quyền, Thiên Nhẫn, Thiên Văn, Thiên Thọ, thì rất tốt thuộc thượng mạng.

18- THIÊN THỌ

Chủ sống lâu, thông minh, lương thiện. Đối với mọi người trên hay dưới đều tỏ vẻ quý trọng, giữ mực thước trong mọi sự, nghe một hiểu tới ngàn, vì sức khỏe dồi dào nên thông minh. Làm ơn hay mắc oán.

- Trung cung hay sao thì sống lâu mà không có phước.

- Gặp Thiên Cô, Thiên Phá, Thiên Ách thì cũng thông minh phước lộc nhưng nửa đường bị cuồng tâm nên thuộc hạ mạng.

- Gặp Thiên Phước, Thiên Quý thì trung bình.

- Gặp Thiên Quyền, Thiên Nhẫn thì có lòng rộng lớn, dám làm việc nghĩa.

*CÁCH ÁP DỤNG : Các bạn trở về Phần 2 (nêu trên) để lập các Đạo & các Thiên căn cứ trên 4 yếu tố : năm tháng ngày giờ âm lịch. Theo chiều kim đồng hồ quay là chiều THUẬN cho Phái Nam. Phái Nữ thì theo chiều NGHỊCH lại.

Xem Ví dụ 1 và Ví dụ 2 (đã lập) thì các bạn sẽ rõ.

- Xem năm tháng ngày giờ nhằm cung nào thuộc Đạo nào và Thiên gì để đoán.

- Các đạo có : PHẬT, QỦY, NHƠN, SÚC, TU, TIÊN. Mỗi thứ có ý nghĩa đặc biệt được chung đúc trong tên gọi.

  • PHẬT dĩ nhiên phải có những tính chất của Phật nghĩa là háo thiện, làm các phương tiện giúp đời, xem tất cả đều bình đẳng và dĩ nhiên không thể có người oán ghét được….
  • QUỶ thì thông minh, mau biết, không chịu ai động chạm tới, người cao ưa, kẻ thấp ghét.
  • NHƠN ắt hào hiệp, giúp người không quản nhọc nhằn, nhờ sẵn có quyền hành và nghĩa khí.
  • SÚC cang cường, tham lam bất thường, tự ý chủ trương không sợ ai phê bình.
  • TU dũng mãnh, háo thiện, không kiêng dè ai cả.
  • TIÊN ắt ưa thanh tịnh vô vi.

- Còn 12 vị sao cũng thế mỗi vị có một tính chất riêng gói ghém trong cái tên gọi.

Ta có : THIÊN QUÝ, ÁCH, QUYỀN, PHÁ , GIAN, VĂN, PHƯỚC, DỊCH, CÔ, NHẪN, NGHỆ, THỌ theo 12 chi tại các cung : TÝ, SỬU, DẦN, MÃO, THÌN, TỊ, NGỌ, MÙI, THÂN, DẬU, TUẤT, HỢI.

- QUÝ được qúy nhân ủng hộ nên công việc hạnh thông

- ÁCH hay bị tai nạn, bệnh tật … ?

- QUYỀN có quyền hành

- PHÁ bi hao phá của cải cơ nghiệp.

- GIAN thì gian xảo.

-VĂN giỏi về văn chương nên tao nhã thanh nhàn, nho nhã thuần hậu.

- PHƯỚC đầy đủ tiền tài phước lộc.

- DỊCH là dời đổi nên phải trôi nổi, lưu lạc.

- CÔ là đơn độc một mình, nên phải chịu cảnh phân ly bà con, khắc vợ con.

- NHẪN đây là nhẫn tâm nên rất cứng cỏi dám làm các sự phi thường cốt sao thỏa tánh háo thắng, khoe khoang.

- NGHỆ là nghề ắt phải tháo vát, lanh lợi và giỏi về nghề nghiệp, được mọi người quý trọng vì nghề mình.

-THỌ là sống lâu, sức khỏe phải dồi dào, các khả năng phát triển đầy đủ nên rất thông minh. Ngoài ra lại dễ chịu với mọi người và cứ làm ơn dù mắc oán.

Nhờ lý luận như thế các bạn sẽ nhớ rất dễ dàng và khi giải đoán có thể tán rộng thêm cho hợp tình hạp cảnh để thú vị và chính xác hơn.

PS : Chúc quý bạn đọc tìm được nguồn bổ hữu ích trong bài viết này và nhìn về chính mình càng thật rõ hơn. Trong thực tế bài này PD đã vận dụng nhanh trong công việc chọn người tại đơn vị, cũng như tìm người đề bạt vào các chức vụ , hiểu được tâm tính người thân … Các bạn thử vận dụng và chiêm nghiệm xem sao.

Monday, July 18, 2011

Nghệ thuật ăn mày (khác chi nghệ thuật kinh doanh?)


Người gửi: supbapcai -- 26/04/2009

Ăn mày là nghề nghiệp của tôi, phải hiểu được niềm vui do công việc của mình mang lại. Lúc trời mưa ít người ra phố, những thằng ăn mày khác đều ủ rũ oán trách hoặc ngủ. Đừng nên như thế, hãy tranh thủ mà cảm nhận vẻ đẹp của thành phố.

Câu chuyện bắt đầu như thế này.

Tôi xách túi đồ nhãn hiệu Levi's ra khỏi Plaza rồi đứng lại ở cửa chờ bạn. Một tay ăn mày chuyên nghiệp phát hiện ra tôi, sán tới đứng trước mặt. Câu chuyện của tôi chỉ có thế thôi. Thế nhưng tay ăn mày đã dạy tôi một bài học kinh tế còn sâu sắc hơn một khoá học tại chức kinh tế ở trường. Tôi kể câu chuyện này chính bởi ý nguyện của tay ăn mày đó.

- Xin anh... cho tôi ít tiền đi! - Tôi đứng đó chả có việc gì nên tiện tay vứt cho hắn đồng tiền xu, rồi bắt chuyện cùng nhau.

Ăn mày rất thích kể lể.

- Tôi chỉ ăn mày quanh khu mua sắm này thôi, anh biết không? Tôi chỉ liếc một phát là thấy anh ngay. Đi mua Levi's ở Plaza chắc chắn nhiều tiền...

- Hả? Ông cũng hiểu đời phết nhỉ! - Tôi ngạc nhiên.

- Làm ăn mày, cũng phải ăn mày cho nó có khoa học. - Ông ta bắt đầu mở máy.

Tôi ngẫm nghĩ một lát, thấy thú vị bèn hỏi:

- Thế nào là ăn mày một cách khoa học?

Tôi nhìn kỹ ông ta, đầu tóc rối bù, quần áo rách nát, tay gầy giơ xương, nhưng lại sạch sẽ.

Ông ta giảng giải:

- Ai chẳng sợ và ghét ăn mày, nhưng tôi tin anh không ghét tôi, tôi đoan chắc điều đó. Đấy là điểm tôi khác biệt với những thằng ăn mày khác.

anmay.jpgTôi gật đầu đồng ý, đúng là tôi không ghét ông ta, nên tôi đang nói chuyện với ông ta đấy thôi.

- Tôi biết phân tích SWOT, những ưu thế, bất lợi, những cơ hội và nguy cơ. Đối mặt với những thằng ăn mày là đối thủ cạnh tranh của tôi, ưu thế (Strengths) của tôi là tôi không làm người ta phản cảm, lánh sợ. Cơ hội (Opportunities) và nguy cơ (Threats) thì chỉ là những yếu tố điều kiện bên ngoài thuộc về hoàn cảnh, có thể là dân số ở đây đông hay vắng, thành phố có quyết định chỉnh trang đô thị, dẹp hè phố chăng...

- ...???

- Tôi đã từng tính toán rất cụ tỉ (cụ thể và tỉ mỉ) rằng, khu vực thương mại này người qua lại đông, mỗi ngày khoảng mười nghìn người, nghèo thì nhiều lắm, nhưng người giàu còn nhiều hơn. Trên phương diện lý luận thì giả như mỗi ngày tôi xin được mỗi người một đồng xu một nghìn đồng, thì mỗi tháng thu nhập của tôi đã được ba trăm triệu đồng. Nhưng thực tế thì đâu phải ai cũng cho ăn mày tiền, mà một ngày làm sao tôi đi xin được mười nghìn lượt người. Vì thế, tôi phải phân tích, ai là khách hàng mục tiêu của tôi, đâu là khách hàng tiềm năng của tôi.

Ông ta lấy giọng nói tiếp:

- Ở khu Plaza này thì khách hàng mục tiêu của tôi chiếm khoảng 30% số lượng người mua sắm, tỉ lệ thành công khoảng 70%. Lượng khách hàng tiềm năng chiếm khoảng 20%, tỉ lệ thành công trên đối tượng này khoảng 50%. Còn lại 50% số người, tôi chọn cách là bỏ qua họ, bởi tôi không có đủ thời gian để tìm vận may của mình với họ, tức là xin tiền họ.

- Thế ông định nghĩa thế nào về khách hàng của ông? - Tôi căn vặn.

- Trước tiên, khách hàng mục tiêu nhé. Thì những nam thanh niên trẻ như anh đấy, có thu nhập, nên tiêu tiền không lưỡng lự. Ngoài ra các đôi tình nhân cũng nằm trong đối tượng khách hàng mục tiêu của tôi, họ không thể mất mặt trước bạn khác phái, vì thế đành phải ra tay hào phóng. Rồi tôi chọn các cô gái xinh đẹp đi một mình là khách hàng tiềm năng, bởi họ rất sợ bị lẽo đẽo theo, chắc chắn họ chọn cách bỏ tiền ra cho rảnh nợ. Hai đối tượng này đều thuộc tầm tuổi 20-30. Nếu tuổi khách hàng nhỏ quá, họ không có thu nhập, mà tuổi già hơn, thì họ có thể đã có gia đình, tiền bạc bị vợ cầm hết rồi. Những ông chồng đó biết đâu có khi đang âm thầm tiếc hận rằng không thể ngửa tay ra xin tiền của tôi ấy chứ!

- Thế thì mỗi ngày ông xin được bao nhiêu tiền?

- Thứ hai đến thứ sáu, sẽ kém một chút, khoảng hai trăm nghìn. Cuối tuần thậm chí có thể 4-500 nghìn.

- Hả? Nhiều vậy sao?

young2.gifThấy tôi nghi ngờ, ông ta tính cho tôi thấy:

- Tôi cũng khác gì anh, tôi cũng làm việc tám giờ vàng ngọc. Buổi sáng từ 11h đến tối 7h, cuối tuần vẫn đi làm như thường. Mỗi lần ăn mày một người tôi mất khoảng 5 giây, trừ đi thời gian tôi đi lại, di chuyển giữa các mục tiêu, thường một phút tôi xin được một lần được một đồng xu 1 nghìn, 8 tiếng tôi xin được 480 đồng một nghìn, rồi tính với tỉ lệ thành công 60% [(70%+50%)÷2] thì tôi được khoảng 300 nghìn.

Chiến lược ăn mày của tôi là dứt khoát không đeo bám khách chạy dọc phố. Nếu xin mà họ không cho, tôi dứt khoát không bám theo họ. Bởi nếu họ cho tiền thì đã cho ngay rồi, nếu họ cho vì bị đeo bám lâu, thì tỉ lệ thành công cũng nhỏ. Tôi không thể mang thời gian ăn mày có giới hạn của tôi để đi lãng phí trên những người khách này, trong khi tôi có thể xoay ngay sang mục tiêu bên cạnh.

Trời, tay ăn mày này có đầu óc quá đi, phân tích như thể giám đốc kinh doanh hoặc giám đốc tiếp thị vậy.

- Ông nói tiếp đi! - Tôi hào hứng.

- Có người bảo ăn mày có số may hay xui, tôi không nghĩ thế. Lấy ví dụ cho anh nhé, nếu có một thanh niên đẹp trai và một phụ nữ xinh đẹp đứng trước cửa shop đồ lót mỹ phẩm, thì anh sẽ chọn ai để ăn mày?

Tôi ngẫm nghĩ rồi bảo, tôi không biết.

- Anh nên đi đến xin tiền anh thanh niên kia. Vì đứng bên anh ta là một phụ nữ đẹp, anh ta chẳng lẽ lại không cho ăn mày tiền. Nhưng nếu anh đi xin cô gái đẹp, cô ta sẽ giả vờ là ghê sợ anh rồi lánh xa anh.

Thôi cho anh một ví dụ nữa: Hôm nọ đứng ở cửa siêu thị BigC có một cô gái trẻ tay cầm túi đồ vừa mua từ siêu thị, một đôi nam nữ yêu nhau đang đứng ăn kem, và một anh chàng đóng bộ công chức chỉnh tề, tay xách túi đựng máy tính xách tay. Tôi chỉ nhìn họ ba giây, sẽ không ngần ngừ bước thẳng tới mặt cô gái trẻ xin tiền, cô gái cho tôi hẳn hai đồng xu, nhưng ngạc nhiên hỏi tôi tại sao chỉ xin tiền có mỗi cô ta. Tôi trả lời rằng, cái đôi tình nhân kia đang ăn, họ không tiện rút ví ra cho tiền, anh kia trông có vẻ lắm tiền, trông như sếp nhưng vì thế trên người họ thường không có sẵn tiền lẻ. Còn cô vừa mua sắm ở siêu thị ra, cô tất còn ít tiền thừa, tiền lẻ.

Chí lý, tôi càng nghe tay ăn mày nói càng tỉnh cả người ra.

- Cho nên tôi bảo rồi, tri thức quyết định tất cả!

Tôi nghe sếp tôi nói bao lần câu này, nhưng đây là lần đầu tôi nghe một thằng ăn mày nói câu này.

- Ăn mày cũng phải mang tri thức ra mà ăn mày. Chứ ngày ngày nằm ệch ra ở xó chợ, cầu thang lên đường vượt giao lộ, xin ai cho được tiền? Những người đi qua giao lộ, chạy qua cổng chợ đều vội vàng hoặc cồng kềnh, ai ra đấy mà chơi bao giờ, ra đấy xin chỉ mệt người. Phải trang bị tri thức cho chính mình, học kiến thức mới làm người ta thông minh lên, những người thông minh sẽ không bao giờ ngừng học hỏi kiến thức mới. Thế kỷ 21 rồi, bây giờ người ta cần gì, có phải là cần nhân tài không?

Có lần, có một người cho tôi hẳn 50 nghìn, nhờ tôi đứng dưới cửa sổ gào: "Hồng ơi, anh yêu em", gào 100 lần. Tôi tính ra gọi một tiếng mất 5 giây, thời gian cũng tương tự như tôi đi ăn mày một lần, nhưng lợi nhuận đạt được chỉ 500 đồng, còn kém đi ăn mày, thế là tôi từ chối.

Ở đây, nói chung một tay ăn mày một tháng có thể đi xin được một nghìn hoặc tám trăm lần. Người nào may mắn thì cùng lắm đi xin được khoảng hai nghìn lần. Dân số ở đây khoảng ba triệu, ăn mày độ chục anh, tức là tôi cứ khoảng mười nghìn người dân mới ăn mày một người. Như thế thu nhập của tôi ổn định, về cơ bản là cho dù kinh tế thế giới đi lên hay đi xuống, tình hình xin tiền của tôi vẫn ổn định, không biến động nhiều.

Trời, tôi phục tay ăn mày này quá!

- Tôi thường nói tôi là một thằng ăn mày vui vẻ. Những thằng ăn mày khác thường vui vì xin được nhiều tiền. Tôi thường bảo chúng nó là, chúng mày nhầm rồi. Vì vui vẻ thì mới xin được nhiều tiền chứ.

anmay1.jpgQuá chuẩn!

- Ăn mày là nghề nghiệp của tôi, phải hiểu được niềm vui do công việc của mình mang lại. Lúc trời mưa ít người ra phố, những thằng ăn mày khác đều ủ rũ oán trách hoặc ngủ. Đừng nên như thế, hãy tranh thủ mà cảm nhận vẻ đẹp của thành phố. Tối về tôi dắt vợ và con đi chơi ngắm trời đêm, nhà ba người nói cười vui vẻ, có lúc đi đường gặp đồng nghiệp, tôi có khi cũng vứt cho họ một đồng xu, để thấy họ vui vẻ đi, nhìn họ như nhìn thấy chính mình.

- Ối ông cũng có vợ con?

- Vợ tôi ở nhà làm bà nội trợ, con tôi đi học. Tôi vay tiền ngân hàng mua một căn nhà nhỏ ở ngoại thành, trả nợ dần trong mười năm, vẫn còn sáu năm nữa mới trả hết. Tôi phải nỗ lực kiếm tiền, con tôi còn phải học lên đại học, tôi sẽ cho nó học Quản trị kinh doanh, Marketing, để con tôi có thể trở thành một thằng ăn mày xuất sắc hơn bố nó.

Tôi buột miệng:

- Ông ơi, ông có thu nhận tôi làm đệ tử không?

www.SAGA.vn - supbapcai | Sưu tầm từ MAIT Forum

Wednesday, June 29, 2011

Master list of Java interview questions - 115 questions By admin | July 18, 2005

What is the difference between procedural and object-oriented programs?- a) In procedural program, programming logic follows certain procedures and the instructions are executed one after another. In OOP program, unit of program is object, which is nothing but combination of data and code. b) In procedural program, data is exposed to the whole program whereas in OOPs program, it is accessible with in the object and which in turn assures the security of the code.
  1. What are Encapsulation, Inheritance and Polymorphism?- Encapsulation is the mechanism that binds together code and data it manipulates and keeps both safe from outside interference and misuse. Inheritance is the process by which one object acquires the properties of another object. Polymorphism is the feature that allows one interface to be used for general class actions.
  2. What is the difference between Assignment and Initialization?- Assignment can be done as many times as desired whereas initialization can be done only once.
  3. What is OOPs?- Object oriented programming organizes a program around its data, i. e. , objects and a set of well defined interfaces to that data. An object-oriented program can be characterized as data controlling access to code.
  4. What are Class, Constructor and Primitive data types?- Class is a template for multiple objects with similar features and it is a blue print for objects. It defines a type of object according to the data the object can hold and the operations the object can perform. Constructor is a special kind of method that determines how an object is initialized when created. Primitive data types are 8 types and they are: byte, short, int, long, float, double, boolean, char.
  5. What is an Object and how do you allocate memory to it?- Object is an instance of a class and it is a software unit that combines a structured set of data with a set of operations for inspecting and manipulating that data. When an object is created using new operator, memory is allocated to it.
  6. What is the difference between constructor and method?- Constructor will be automatically invoked when an object is created whereas method has to be called explicitly.
  7. What are methods and how are they defined?- Methods are functions that operate on instances of classes in which they are defined. Objects can communicate with each other using methods and can call methods in other classes. Method definition has four parts. They are name of the method, type of object or primitive type the method returns, a list of parameters and the body of the method. A method’s signature is a combination of the first three parts mentioned above.
  8. What is the use of bin and lib in JDK?- Bin contains all tools such as javac, appletviewer, awt tool, etc., whereas lib contains API and all packages.
  9. What is casting?- Casting is used to convert the value of one type to another.
  10. How many ways can an argument be passed to a subroutine and explain them?- An argument can be passed in two ways. They are passing by value and passing by reference. Passing by value: This method copies the value of an argument into the formal parameter of the subroutine. Passing by reference: In this method, a reference to an argument (not the value of the argument) is passed to the parameter.
  11. What is the difference between an argument and a parameter?- While defining method, variables passed in the method are called parameters. While using those methods, values passed to those variables are called arguments.
  12. What are different types of access modifiers?- public: Any thing declared as public can be accessed from anywhere. private: Any thing declared as private can’t be seen outside of its class. protected: Any thing declared as protected can be accessed by classes in the same package and subclasses in the other packages. default modifier : Can be accessed only to classes in the same package.
  13. What is final, finalize() and finally?- final : final keyword can be used for class, method and variables. A final class cannot be subclassed and it prevents other programmers from subclassing a secure class to invoke insecure methods. A final method can’t be overridden. A final variable can’t change from its initialized value. finalize() : finalize() method is used just before an object is destroyed and can be called just prior to garbage collection. finally : finally, a key word used in exception handling, creates a block of code that will be executed after a try/catch block has completed and before the code following the try/catch block. The finally block will execute whether or not an exception is thrown. For example, if a method opens a file upon exit, then you will not want the code that closes the file to be bypassed by the exception-handling mechanism. This finally keyword is designed to address this contingency.
  14. What is UNICODE?- Unicode is used for internal representation of characters and strings and it uses 16 bits to represent each other.
  15. What is Garbage Collection and how to call it explicitly?- When an object is no longer referred to by any variable, java automatically reclaims memory used by that object. This is known as garbage collection. System. gc() method may be used to call it explicitly.
  16. What is finalize() method?- finalize () method is used just before an object is destroyed and can be called just prior to garbage collection.
  17. What are Transient and Volatile Modifiers?- Transient: The transient modifier applies to variables only and it is not stored as part of its object’s Persistent state. Transient variables are not serialized. Volatile: Volatile modifier applies to variables only and it tells the compiler that the variable modified by volatile can be changed unexpectedly by other parts of the program.
  18. What is method overloading and method overriding?- Method overloading: When a method in a class having the same method name with different arguments is said to be method overloading. Method overriding : When a method in a class having the same method name with same arguments is said to be method overriding.
  19. What is difference between overloading and overriding?- a) In overloading, there is a relationship between methods available in the same class whereas in overriding, there is relationship between a superclass method and subclass method. b) Overloading does not block inheritance from the superclass whereas overriding blocks inheritance from the superclass. c) In overloading, separate methods share the same name whereas in overriding, subclass method replaces the superclass. d) Overloading must have different method signatures whereas overriding must have same signature.
  20. What is meant by Inheritance and what are its advantages?- Inheritance is the process of inheriting all the features from a class. The advantages of inheritance are reusability of code and accessibility of variables and methods of the super class by subclasses.
  21. What is the difference between this() and super()?- this() can be used to invoke a constructor of the same class whereas super() can be used to invoke a super class constructor.
  22. What is the difference between superclass and subclass?- A super class is a class that is inherited whereas sub class is a class that does the inheriting.
  23. What modifiers may be used with top-level class?- public, abstract and final can be used for top-level class.
  24. What are inner class and anonymous class?- Inner class : classes defined in other classes, including those defined in methods are called inner classes. An inner class can have any accessibility including private. Anonymous class : Anonymous class is a class defined inside a method without a name and is instantiated and declared in the same place and cannot have explicit constructors.
  25. What is a package?- A package is a collection of classes and interfaces that provides a high-level layer of access protection and name space management.
  26. What is a reflection package?- java. lang. reflect package has the ability to analyze itself in runtime.
  27. What is interface and its use?- Interface is similar to a class which may contain method’s signature only but not bodies and it is a formal set of method and constant declarations that must be defined by the class that implements it. Interfaces are useful for: a)Declaring methods that one or more classes are expected to implement b)Capturing similarities between unrelated classes without forcing a class relationship. c)Determining an object’s programming interface without revealing the actual body of the class.
  28. What is an abstract class?- An abstract class is a class designed with implementation gaps for subclasses to fill in and is deliberately incomplete.
  29. What is the difference between Integer and int?- a) Integer is a class defined in the java. lang package, whereas int is a primitive data type defined in the Java language itself. Java does not automatically convert from one to the other. b) Integer can be used as an argument for a method that requires an object, whereas int can be used for calculations.
  30. What is a cloneable interface and how many methods does it contain?- It is not having any method because it is a TAGGED or MARKER interface.
  31. What is the difference between abstract class and interface?- a) All the methods declared inside an interface are abstract whereas abstract class must have at least one abstract method and others may be concrete or abstract. b) In abstract class, key word abstract must be used for the methods whereas interface we need not use that keyword for the methods. c) Abstract class must have subclasses whereas interface can’t have subclasses.
  32. Can you have an inner class inside a method and what variables can you access?- Yes, we can have an inner class inside a method and final variables can be accessed.
  33. What is the difference between String and String Buffer?- a) String objects are constants and immutable whereas StringBuffer objects are not. b) String class supports constant strings whereas StringBuffer class supports growable and modifiable strings.
  34. What is the difference between Array and vector?- Array is a set of related data type and static whereas vector is a growable array of objects and dynamic.
  35. What is the difference between exception and error?- The exception class defines mild error conditions that your program encounters. Exceptions can occur when trying to open the file, which does not exist, the network connection is disrupted, operands being manipulated are out of prescribed ranges, the class file you are interested in loading is missing. The error class defines serious error conditions that you should not attempt to recover from. In most cases it is advisable to let the program terminate when such an error is encountered.
  36. What is the difference between process and thread?- Process is a program in execution whereas thread is a separate path of execution in a program.
  37. What is multithreading and what are the methods for inter-thread communication and what is the class in which these methods are defined?- Multithreading is the mechanism in which more than one thread run independent of each other within the process. wait (), notify () and notifyAll() methods can be used for inter-thread communication and these methods are in Object class. wait() : When a thread executes a call to wait() method, it surrenders the object lock and enters into a waiting state. notify() or notifyAll() : To remove a thread from the waiting state, some other thread must make a call to notify() or notifyAll() method on the same object.
  38. What is the class and interface in java to create thread and which is the most advantageous method?- Thread class and Runnable interface can be used to create threads and using Runnable interface is the most advantageous method to create threads because we need not extend thread class here.
  39. What are the states associated in the thread?- Thread contains ready, running, waiting and dead states.
  40. What is synchronization?- Synchronization is the mechanism that ensures that only one thread is accessed the resources at a time.
  41. When you will synchronize a piece of your code?- When you expect your code will be accessed by different threads and these threads may change a particular data causing data corruption.
  42. What is deadlock?- When two threads are waiting each other and can’t precede the program is said to be deadlock.
  43. What is daemon thread and which method is used to create the daemon thread?- Daemon thread is a low priority thread which runs intermittently in the back ground doing the garbage collection operation for the java runtime system. setDaemon method is used to create a daemon thread.
  44. Are there any global variables in Java, which can be accessed by other part of your program?- No, it is not the main method in which you define variables. Global variables is not possible because concept of encapsulation is eliminated here.
  45. What is an applet?- Applet is a dynamic and interactive program that runs inside a web page displayed by a java capable browser.
  46. What is the difference between applications and applets?- a)Application must be run on local machine whereas applet needs no explicit installation on local machine. b)Application must be run explicitly within a java-compatible virtual machine whereas applet loads and runs itself automatically in a java-enabled browser. d)Application starts execution with its main method whereas applet starts execution with its init method. e)Application can run with or without graphical user interface whereas applet must run within a graphical user interface.
  47. How does applet recognize the height and width?- Using getParameters() method.
  48. When do you use codebase in applet?- When the applet class file is not in the same directory, codebase is used.
  49. What is the lifecycle of an applet?- init() method - Can be called when an applet is first loaded start() method - Can be called each time an applet is started. paint() method - Can be called when the applet is minimized or maximized. stop() method - Can be used when the browser moves off the applet’s page. destroy() method - Can be called when the browser is finished with the applet.
  50. How do you set security in applets?- using setSecurityManager() method
  51. What is an event and what are the models available for event handling?- An event is an event object that describes a state of change in a source. In other words, event occurs when an action is generated, like pressing button, clicking mouse, selecting a list, etc. There are two types of models for handling events and they are: a) event-inheritance model and b) event-delegation model
  52. What are the advantages of the model over the event-inheritance model?- The event-delegation model has two advantages over the event-inheritance model. They are: a)It enables event handling by objects other than the ones that generate the events. This allows a clean separation between a component’s design and its use. b)It performs much better in applications where many events are generated. This performance improvement is due to the fact that the event-delegation model does not have to be repeatedly process unhandled events as is the case of the event-inheritance.
  53. What is source and listener?- source : A source is an object that generates an event. This occurs when the internal state of that object changes in some way. listener : A listener is an object that is notified when an event occurs. It has two major requirements. First, it must have been registered with one or more sources to receive notifications about specific types of events. Second, it must implement methods to receive and process these notifications.
  54. What is adapter class?- An adapter class provides an empty implementation of all methods in an event listener interface. Adapter classes are useful when you want to receive and process only some of the events that are handled by a particular event listener interface. You can define a new class to act listener by extending one of the adapter classes and implementing only those events in which you are interested. For example, the MouseMotionAdapter class has two methods, mouseDragged()and mouseMoved(). The signatures of these empty are exactly as defined in the MouseMotionListener interface. If you are interested in only mouse drag events, then you could simply extend MouseMotionAdapter and implement mouseDragged() .
  55. What is meant by controls and what are different types of controls in AWT?- Controls are components that allow a user to interact with your application and the AWT supports the following types of controls: Labels, Push Buttons, Check Boxes, Choice Lists, Lists, Scrollbars, Text Components. These controls are subclasses of Component.
  56. What is the difference between choice and list?- A Choice is displayed in a compact form that requires you to pull it down to see the list of available choices and only one item may be selected from a choice. A List may be displayed in such a way that several list items are visible and it supports the selection of one or more list items.
  57. What is the difference between scrollbar and scrollpane?- A Scrollbar is a Component, but not a Container whereas Scrollpane is a Conatiner and handles its own events and perform its own scrolling.
  58. What is a layout manager and what are different types of layout managers available in java AWT?- A layout manager is an object that is used to organize components in a container. The different layouts are available are FlowLayout, BorderLayout, CardLayout, GridLayout and GridBagLayout.
  59. How are the elements of different layouts organized?- FlowLayout: The elements of a FlowLayout are organized in a top to bottom, left to right fashion. BorderLayout: The elements of a BorderLayout are organized at the borders (North, South, East and West) and the center of a container. CardLayout: The elements of a CardLayout are stacked, on top of the other, like a deck of cards. GridLayout: The elements of a GridLayout are of equal size and are laid out using the square of a grid. GridBagLayout: The elements of a GridBagLayout are organized according to a grid. However, the elements are of different size and may occupy more than one row or column of the grid. In addition, the rows and columns may have different sizes.
  60. Which containers use a Border layout as their default layout?- Window, Frame and Dialog classes use a BorderLayout as their layout.
  61. Which containers use a Flow layout as their default layout?- Panel and Applet classes use the FlowLayout as their default layout.
  62. What are wrapper classes?- Wrapper classes are classes that allow primitive types to be accessed as objects.
  63. What are Vector, Hashtable, LinkedList and Enumeration?- Vector : The Vector class provides the capability to implement a growable array of objects. Hashtable : The Hashtable class implements a Hashtable data structure. A Hashtable indexes and stores objects in a dictionary using hash codes as the object’s keys. Hash codes are integer values that identify objects. LinkedList: Removing or inserting elements in the middle of an array can be done using LinkedList. A LinkedList stores each object in a separate link whereas an array stores object references in consecutive locations. Enumeration: An object that implements the Enumeration interface generates a series of elements, one at a time. It has two methods, namely hasMoreElements() and nextElement(). HasMoreElemnts() tests if this enumeration has more elements and nextElement method returns successive elements of the series.
  64. What is the difference between set and list?- Set stores elements in an unordered way but does not contain duplicate elements, whereas list stores elements in an ordered way but may contain duplicate elements.
  65. What is a stream and what are the types of Streams and classes of the Streams?- A Stream is an abstraction that either produces or consumes information. There are two types of Streams and they are: Byte Streams: Provide a convenient means for handling input and output of bytes. Character Streams: Provide a convenient means for handling input & output of characters. Byte Streams classes: Are defined by using two abstract classes, namely InputStream and OutputStream. Character Streams classes: Are defined by using two abstract classes, namely Reader and Writer.
  66. What is the difference between Reader/Writer and InputStream/Output Stream?- The Reader/Writer class is character-oriented and the InputStream/OutputStream class is byte-oriented.
  67. What is an I/O filter?- An I/O filter is an object that reads from one stream and writes to another, usually altering the data in some way as it is passed from one stream to another.
  68. What is serialization and deserialization?- Serialization is the process of writing the state of an object to a byte stream. Deserialization is the process of restoring these objects.
  69. What is JDBC?- JDBC is a set of Java API for executing SQL statements. This API consists of a set of classes and interfaces to enable programs to write pure Java Database applications.
  70. What are drivers available?- a) JDBC-ODBC Bridge driver b) Native API Partly-Java driver c) JDBC-Net Pure Java driver d) Native-Protocol Pure Java driver
  71. What is the difference between JDBC and ODBC?- a) OBDC is for Microsoft and JDBC is for Java applications. b) ODBC can’t be directly used with Java because it uses a C interface. c) ODBC makes use of pointers which have been removed totally from Java. d) ODBC mixes simple and advanced features together and has complex options for simple queries. But JDBC is designed to keep things simple while allowing advanced capabilities when required. e) ODBC requires manual installation of the ODBC driver manager and driver on all client machines. JDBC drivers are written in Java and JDBC code is automatically installable, secure, and portable on all platforms. f) JDBC API is a natural Java interface and is built on ODBC. JDBC retains some of the basic features of ODBC.
  72. What are the types of JDBC Driver Models and explain them?- There are two types of JDBC Driver Models and they are: a) Two tier model and b) Three tier model Two tier model: In this model, Java applications interact directly with the database. A JDBC driver is required to communicate with the particular database management system that is being accessed. SQL statements are sent to the database and the results are given to user. This model is referred to as client/server configuration where user is the client and the machine that has the database is called as the server. Three tier model: A middle tier is introduced in this model. The functions of this model are: a) Collection of SQL statements from the client and handing it over to the database, b) Receiving results from database to the client and c) Maintaining control over accessing and updating of the above.
  73. What are the steps involved for making a connection with a database or how do you connect to a database?a) Loading the driver : To load the driver, Class. forName() method is used. Class. forName(”sun. jdbc. odbc. JdbcOdbcDriver”); When the driver is loaded, it registers itself with the java. sql. DriverManager class as an available database driver. b) Making a connection with database: To open a connection to a given database, DriverManager. getConnection() method is used. Connection con = DriverManager. getConnection (”jdbc:odbc:somedb”, “user”, “password”); c) Executing SQL statements : To execute a SQL query, java. sql. statements class is used. createStatement() method of Connection to obtain a new Statement object. Statement stmt = con. createStatement(); A query that returns data can be executed using the executeQuery() method of Statement. This method executes the statement and returns a java. sql. ResultSet that encapsulates the retrieved data: ResultSet rs = stmt. executeQuery(”SELECT * FROM some table”); d) Process the results : ResultSet returns one row at a time. Next() method of ResultSet object can be called to move to the next row. The getString() and getObject() methods are used for retrieving column values: while(rs. next()) { String event = rs. getString(”event”); Object count = (Integer) rs. getObject(”count”);
  74. What type of driver did you use in project?- JDBC-ODBC Bridge driver (is a driver that uses native(C language) libraries and makes calls to an existing ODBC driver to access a database engine).
  75. What are the types of statements in JDBC?- Statement: to be used createStatement() method for executing single SQL statement PreparedStatement — To be used preparedStatement() method for executing same SQL statement over and over. CallableStatement — To be used prepareCall() method for multiple SQL statements over and over.
  76. What is stored procedure?- Stored procedure is a group of SQL statements that forms a logical unit and performs a particular task. Stored Procedures are used to encapsulate a set of operations or queries to execute on database. Stored procedures can be compiled and executed with different parameters and results and may have any combination of input/output parameters.
  77. How to create and call stored procedures?- To create stored procedures: Create procedure procedurename (specify in, out and in out parameters) BEGIN Any multiple SQL statement; END; To call stored procedures: CallableStatement csmt = con. prepareCall(”{call procedure name(?,?)}”); csmt. registerOutParameter(column no. , data type); csmt. setInt(column no. , column name) csmt. execute();
  78. What is servlet?- Servlets are modules that extend request/response-oriented servers, such as java-enabled web servers. For example, a servlet might be responsible for taking data in an HTML order-entry form and applying the business logic used to update a company’s order database.
  79. What are the classes and interfaces for servlets?- There are two packages in servlets and they are javax. servlet and
  80. What is the difference between an applet and a servlet?- a) Servlets are to servers what applets are to browsers. b) Applets must have graphical user interfaces whereas servlets have no graphical user interfaces.
  81. What is the difference between doPost and doGet methods?- a) doGet() method is used to get information, while doPost() method is used for posting information. b) doGet() requests can’t send large amount of information and is limited to 240-255 characters. However, doPost()requests passes all of its data, of unlimited length. c) A doGet() request is appended to the request URL in a query string and this allows the exchange is visible to the client, whereas a doPost() request passes directly over the socket connection as part of its HTTP request body and the exchange are invisible to the client.
  82. What is the life cycle of a servlet?- Each Servlet has the same life cycle: a) A server loads and initializes the servlet by init () method. b) The servlet handles zero or more client’s requests through service() method. c) The server removes the servlet through destroy() method.
  83. Who is loading the init() method of servlet?- Web server
  84. What are the different servers available for developing and deploying Servlets?- a) Java Web Server b) JRun g) Apache Server h) Netscape Information Server i) Web Logic
  85. How many ways can we track client and what are they?- The servlet API provides two ways to track client state and they are: a) Using Session tracking and b) Using Cookies.
  86. What is session tracking and how do you track a user session in servlets?- Session tracking is a mechanism that servlets use to maintain state about a series requests from the same user across some period of time. The methods used for session tracking are: a) User Authentication - occurs when a web server restricts access to some of its resources to only those clients that log in using a recognized username and password. b) Hidden form fields - fields are added to an HTML form that are not displayed in the client’s browser. When the form containing the fields is submitted, the fields are sent back to the server. c) URL rewriting - every URL that the user clicks on is dynamically modified or rewritten to include extra information. The extra information can be in the form of extra path information, added parameters or some custom, server-specific URL change. d) Cookies - a bit of information that is sent by a web server to a browser and which can later be read back from that browser. e) HttpSession- places a limit on the number of sessions that can exist in memory. This limit is set in the session. maxresidents property.
  87. What is Server-Side Includes (SSI)?- Server-Side Includes allows embedding servlets within HTML pages using a special servlet tag. In many servlets that support servlets, a page can be processed by the server to include output from servlets at certain points inside the HTML page. This is accomplished using a special internal SSINCLUDE, which processes the servlet tags. SSINCLUDE servlet will be invoked whenever a file with an. shtml extension is requested. So HTML files that include server-side includes must be stored with an . shtml extension.
  88. What are cookies and how will you use them?- Cookies are a mechanism that a servlet uses to have a client hold a small amount of state-information associated with the user. a) Create a cookie with the Cookie constructor: public Cookie(String name, String value) b) A servlet can send a cookie to the client by passing a Cookie object to the addCookie() method of HttpServletResponse: public void HttpServletResponse. addCookie(Cookie cookie) c) A servlet retrieves cookies by calling the getCookies() method of HttpServletRequest: public Cookie[ ] HttpServletRequest. getCookie().
  89. Is it possible to communicate from an applet to servlet and how many ways and how?- Yes, there are three ways to communicate from an applet to servlet and they are: a) HTTP Communication(Text-based and object-based) b) Socket Communication c) RMI Communication
  90. What is connection pooling?- With servlets, opening a database connection is a major bottleneck because we are creating and tearing down a new connection for every page request and the time taken to create connection will be more. Creating a connection pool is an ideal approach for a complicated servlet. With a connection pool, we can duplicate only the resources we need to duplicate rather than the entire servlet. A connection pool can also intelligently manage the size of the pool and make sure each connection remains valid. A number of connection pool packages are currently available. Some like DbConnectionBroker are freely available from Java Exchange Works by creating an object that dispenses connections and connection Ids on request. The ConnectionPool class maintains a Hastable, using Connection objects as keys and Boolean values as stored values. The Boolean value indicates whether a connection is in use or not. A program calls getConnection() method of the ConnectionPool for getting Connection object it can use; it calls returnConnection() to give the connection back to the pool.
  91. Why should we go for interservlet communication?- Servlets running together in the same server communicate with each other in several ways. The three major reasons to use interservlet communication are: a) Direct servlet manipulation - allows to gain access to the other currently loaded servlets and perform certain tasks (through the ServletContext object) b) Servlet reuse - allows the servlet to reuse the public methods of another servlet. c) Servlet collaboration - requires to communicate with each other by sharing specific information (through method invocation)
  92. Is it possible to call servlet with parameters in the URL?- Yes. You can call a servlet with parameters in the syntax as (?Param1 = xxx || m2 = yyy).
  93. What is Servlet chaining?- Servlet chaining is a technique in which two or more servlets can cooperate in servicing a single request. In servlet chaining, one servlet’s output is piped to the next servlet’s input. This process continues until the last servlet is reached. Its output is then sent back to the client.
  94. How do servlets handle multiple simultaneous requests?- The server has multiple threads that are available to handle requests. When a request comes in, it is assigned to a thread, which calls a service method (for example: doGet(), doPost() and service()) of the servlet. For this reason, a single servlet object can have its service methods called by many threads at once.
  95. What is the difference between TCP/IP and UDP?- TCP/IP is a two-way communication between the client and the server and it is a reliable and there is a confirmation regarding reaching the message to the destination. It is like a phone call. UDP is a one-way communication only between the client and the server and it is not a reliable and there is no confirmation regarding reaching the message to the destination. It is like a postal mail.
  96. What is Inet address?- Every computer connected to a network has an IP address. An IP address is a number that uniquely identifies each computer on the Net. An IP address is a 32-bit number.
  97. What is Domain Naming Service(DNS)?- It is very difficult to remember a set of numbers(IP address) to connect to the Internet. The Domain Naming Service(DNS) is used to overcome this problem. It maps one particular IP address to a string of characters. For example, www. mascom. com implies com is the domain name reserved for US commercial sites, moscom is the name of the company and www is the name of the specific computer, which is mascom’s server.
  98. What is URL?- URL stands for Uniform Resource Locator and it points to resource files on the Internet. URL has four components: http://www. address. com:80/index.html, where http - protocol name, address - IP address or host name, 80 - port number and index.html - file path.
  99. What is RMI and steps involved in developing an RMI object?- Remote Method Invocation (RMI) allows java object that executes on one machine and to invoke the method of a Java object to execute on another machine. The steps involved in developing an RMI object are: a) Define the interfaces b) Implementing these interfaces c) Compile the interfaces and their implementations with the java compiler d) Compile the server implementation with RMI compiler e) Run the RMI registry f) Run the application
  100. What is RMI architecture?- RMI architecture consists of four layers and each layer performs specific functions: a) Application layer - contains the actual object definition. b) Proxy layer - consists of stub and skeleton. c) Remote Reference layer - gets the stream of bytes from the transport layer and sends it to the proxy layer. d) Transportation layer - responsible for handling the actual machine-to-machine communication.
  101. what is UnicastRemoteObject?- All remote objects must extend UnicastRemoteObject, which provides functionality that is needed to make objects available from remote machines.
  102. Explain the methods, rebind() and lookup() in Naming class?- rebind() of the Naming class(found in java. rmi) is used to update the RMI registry on the server machine. Naming. rebind(”AddSever”, AddServerImpl); lookup() of the Naming class accepts one argument, the rmi URL and returns a reference to an object of type AddServerImpl.
  103. What is a Java Bean?- A Java Bean is a software component that has been designed to be reusable in a variety of different environments.
  104. What is a Jar file?- Jar file allows to efficiently deploying a set of classes and their associated resources. The elements in a jar file are compressed, which makes downloading a Jar file much faster than separately downloading several uncompressed files. The package java. util. zip contains classes that read and write jar files.
  105. What is BDK?- BDK, Bean Development Kit is a tool that enables to create, configure and connect a set of set of Beans and it can be used to test Beans without writing a code.
  106. What is JSP?- JSP is a dynamic scripting capability for web pages that allows Java as well as a few special tags to be embedded into a web file (HTML/XML, etc). The suffix traditionally ends with .jsp to indicate to the web server that the file is a JSP files. JSP is a server side technology - you can’t do any client side validation with it. The advantages are: a) The JSP assists in making the HTML more functional. Servlets on the other hand allow outputting of HTML but it is a tedious process. b) It is easy to make a change and then let the JSP capability of the web server you are using deal with compiling it into a servlet and running it.
  107. What are JSP scripting elements?- JSP scripting elements lets to insert Java code into the servlet that will be generated from the current JSP page. There are three forms: a) Expressions of the form <%= expression %> that are evaluated and inserted into the output, b) Scriptlets of the form<% code %>that are inserted into the servlet’s service method, and c) Declarations of the form <%! Code %>that are inserted into the body of the servlet class, outside of any existing methods.
  108. What are JSP Directives?- A JSP directive affects the overall structure of the servlet class. It usually has the following form:<%@ directive attribute=”value” %> However, you can also combine multiple attribute settings for a single directive, as follows:<%@ directive attribute1=”value1″ attribute 2=”value2″ . . . attributeN =”valueN” %> There are two main types of directive: page, which lets to do things like import classes, customize the servlet superclass, and the like; and include, which lets to insert a file into the servlet class at the time the JSP file is translated into a servlet
  109. What are Predefined variables or implicit objects?- To simplify code in JSP expressions and scriptlets, we can use eight automatically defined variables, sometimes called implicit objects. They are request, response, out, session, application, config, pageContext, and page.
  110. What are JSP ACTIONS?- JSP actions use constructs in XML syntax to control the behavior of the servlet engine. You can dynamically insert a file, reuse JavaBeans components, forward the user to another page, or generate HTML for the Java plugin. Available actions include: jsp:include - Include a file at the time the page is requested. jsp:useBean - Find or instantiate a JavaBean. jsp:setProperty - Set the property of a JavaBean. jsp:getProperty - Insert the property of a JavaBean into the output. jsp:forward - Forward the requester to a newpage. Jsp: plugin - Generate browser-specific code that makes an OBJECT or EMBED
  111. How do you pass data (including JavaBeans) to a JSP from a servlet?- (1) Request Lifetime: Using this technique to pass beans, a request dispatcher (using either “include” or forward”) can be called. This bean will disappear after processing this request has been completed. Servlet: request. setAttribute(”theBean”, myBean); RequestDispatcher rd = getServletContext(). getRequestDispatcher(”thepage. jsp”); rd. forward(request, response); JSP PAGE:(2) Session Lifetime: Using this technique to pass beans that are relevant to a particular session (such as in individual user login) over a number of requests. This bean will disappear when the session is invalidated or it times out, or when you remove it. Servlet: HttpSession session = request. getSession(true); session. putValue(”theBean”, myBean); /* You can do a request dispatcher here, or just let the bean be visible on the next request */ JSP Page: 3) Application Lifetime: Using this technique to pass beans that are relevant to all servlets and JSP pages in a particular app, for all users. For example, I use this to make a JDBC connection pool object available to the various servlets and JSP pages in my apps. This bean will disappear when the servlet engine is shut down, or when you remove it. Servlet: GetServletContext(). setAttribute(”theBean”, myBean); JSP PAGE:
  112. How can I set a cookie in JSP?- response. setHeader(”Set-Cookie”, “cookie string”); To give the response-object to a bean, write a method setResponse (HttpServletResponse response) - to the bean, and in jsp-file:<% bean. setResponse (response); %>
  113. How can I delete a cookie with JSP?- Say that I have a cookie called “foo, ” that I set a while ago & I want it to go away. I simply: <% Cookie killCookie = new Cookie(”foo”, null); KillCookie. setPath(”/”); killCookie. setMaxAge(0); response. addCookie(killCookie); %>
  114. How are Servlets and JSP Pages related?- JSP pages are focused around HTML (or XML) with Java codes and JSP tags inside them. When a web server that has JSP support is asked for a JSP page, it checks to see if it has already compiled the page into a servlet. Thus, JSP pages become servlets and are transformed into pure Java and then compiled, loaded into the server and executed.