Triết lý sống

Phàm làm việc gì trước phải suy xét đến hậu quả của nó
Hành động của người quân tử là giữ tĩnh lặng để tu thân, cần kiệm để dung dưỡng đức độ. Không đạm bạc thì không thể có trí tuệ sáng suốt, không yên tĩnh thì không có chí vươn xa. Học thì phải cần yên tĩnh, muốn có tài năng phải học; không học thì không biết rộng, không có chí thì việc học không thành.

Mong muốn lan man thì không thể nảy sinh cái tinh túy, vội tìm cái hiểm hóc thì không nắm được cái thực tình. Thời gian tuổi tác qua nhanh, ý chí cùng ngày tháng trôi đi trở thành khô héo, phần lớn không tiếp cận được với thời đại, rồi buồn tủi nơi lều nát, sao còn khôi phục lại kịp cái chí hướng được nữa !

Tuesday, January 18, 2011

Quản lý nợ công

www.SAGA.vn - Mỗi khi nói đến nợ công của Việt Nam, chúng ta thường thấy một nhận xét đi kèm là tình hình vẫn còn nằm trong tầm kiểm soát, tổng nợ đang ở mức an toàn, không có gì đáng lo... Tuy nhiên, vấn đề là con số nợ công dựa vào để nhận xét như thế là con số nào?

quanlynocong.jpg
Thi công một dự án sử dụng vốn ODA ở Tp.HCM

Thế nào là nợ công?


Có lẽ đầu tiên là phải quay lại với những định nghĩa chính thức. Theo Luật Quản lý nợ công mới được ban hành và có hiệu lực từ đầu năm nay, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Như vậy, các khoản vay như vay vốn ODA, phát hành trái phiếu chính phủ (trong cũng như ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị, hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công.

Trước nay mọi người thường chỉ nghĩ đến nợ chính phủ khi nói đến tổng nợ công. Khi Chính phủ phát hành 1 tỉ đô la trái phiếu ở nước ngoài, ai cũng biết nó được tính vào tổng nợ công nhưng khi đọc tin một doanh nghiệp thu xếp ký kết một khoản vay 2 tỉ đô la với một ngân hàng nước ngoài nào đó, có sự bảo lãnh của Chính phủ, có thể có người vẫn nghĩ đó là nợ doanh nghiệp, đâu phải là nợ công!

Ngoài ra cần chú ý thêm khái niệm “nợ nước ngoài của quốc gia”, là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác vay theo phương thức tự vay, tự trả. Vốn vay từ Ngân hàng Phát triển châu Á hay Ngân hàng Thế giới đương nhiên là nợ nước ngoài rồi nhưng một doanh nghiệp vay từ đối tác nước ngoài vài trăm triệu đô la, chẳng hạn, dù có hay không có bảo lãnh của chính phủ, thì khoản tiền đó vẫn phải tính vào tổng nợ nước ngoài của quốc gia.

Nợ công là bao nhiêu?

Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào cuối tuần trước, báo cáo cho thấy nợ chính phủ đang tăng cao: bằng 33,8% GDP năm 2007; 36,2% GDP năm 2008, 41,9% GDP năm 2009 và dự báo lên đến 44,6% vào cuối năm 2010. Dựa vào các con số này, Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội cảnh báo mức nợ chính phủ đã tăng sát mức trần cho phép.

Nhưng ở đây có hai điểm cần làm rõ. Mức nợ này, nếu đúng theo báo cáo, chỉ mới là nợ chính phủ, chưa phải là tổng mức nợ công vì chưa tính đến các khoản nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Hơn nữa, mức trần để xem nợ công là an toàn được tính khi tổng nợ công bằng hay dưới mức 50% GDP. Nếu cộng hai khoản nói trên, nhất là những khoản vay của các tập đoàn được chính phủ bảo lãnh trong mấy năm vừa rồi, nợ công của Việt Nam đã vượt trần.

Theo một báo cáo cuối năm rồi của Bộ Tài chính, nợ công của Việt Nam tính đến hết năm 2009 đã là 44,7% GDP (trong đó nợ Chính phủ bằng 35,4% GDP, nợ được Chính phủ bảo lãnh bằng 7,9% GDP và nợ chính quyền địa phương là 1,4% GDP).

Rõ ràng hai con số 41,9% GDP đưa ra vào cuối tuần trước và 35,4% GDP theo báo cáo của Bộ Tài chính đã có sự sai lệch rất lớn. Nếu tính thêm các khoản vay mới đây như phát hành trái phiếu bằng tiền đồng và ngoại tệ, vay từ các định chế tài chính quốc tế (như 500 triệu đô la từ Ngân hàng Thế giới...) tỷ lệ này chắc chắn còn cao hơn nhiều. Cũng trong báo cáo này, tổng số dư nợ nước ngoài trung và dài hạn của quốc gia khoảng 30,5% GDP.

Chiến lược an toàn

Thiết nghĩ, một chiến lược quản lý nợ công sao cho đảm bảo an toàn không nên chỉ chú trọng đến tỷ lệ. Nếu dùng cột mốc 50% GDP sẽ có người nói ở nước này nước khác, người ta đang dùng tỷ lệ đến 80% GDP!

Vấn đề là xem xu hướng của các tỷ lệ này đang diễn tiến như thế nào. Nếu tăng với tốc độ như Ủy ban Tài chính - Ngân sách cảnh báo thì đúng là đáng lo ngại vì tỷ lệ này không sớm thì muộn sẽ vượt mốc an toàn, dù dùng mốc nào chăng nữa.

Điều quan trọng hơn cả là chú ý đến hiệu quả sử dụng các khoản vay, từ đó mới bảo đảm được dòng tiền trả nợ trong tương lai. Hiện nay dường như chúng ta mới chỉ chú trọng đến khía cạnh giải ngân cho được các khoản vay, bán cho được trái phiếu, thu tiền về đã xem là thành công. Trong khi tiền đó được sử dụng như thế nào thì chưa ai xem trọng.

Một dự án ODA chẳng hạn, cho dù thời hạn vay kéo dài đến 40 năm, thời gian ân hạn 10 năm đi nữa thì trước sau gì chúng ta cũng phải trả cho hết nợ. Dự án ODA không chỉ triển khai làm cho xong mà còn phải theo dõi xem dòng tiền nó thu về có đủ để trả nợ như cam kết trong dự án hay không.

Hay một khoản vay của một tập đoàn kinh tế được Chính phủ bảo lãnh, phải theo dõi chặt chẽ xem tiền vay có được sử dụng đúng mục đích ban đầu, tiến độ trả nợ có đúng lộ trình, hiệu quả sử dụng vốn ra sao - bởi suy cho cùng một khi đã bảo lãnh, chính ngân sách nhà nước phải đảm đương khoản nợ này nếu doanh nghiệp không có khả năng chi trả.

Trước đây việc quản lý nợ công được chia năm xẻ bảy cho rất nhiều cơ quan nhà nước quản lý, cấp bảo lãnh cho doanh nghiệp vay nợ nước ngoài cũng phân cho nhiều cơ quan. Số liệu vì vậy không được cập nhật, không thống nhất. Nay Luật Quản lý nợ công đã tập trung công việc quản lý này về cho Bộ Tài chính, là một dịp để chúng ta rà soát, tính toán lại tất cả các khoản nợ công cũng như nợ nước ngoài của Việt Nam. Bộ Tài chính bước đầu đã có những thông tin công khai về nợ công trên website của mình.

Đáng tiếc cho đến nay bản tin công khai này chỉ mới dừng lại ở các khoản nợ nước ngoài chứ chưa phải toàn bộ nợ công và thông tin chỉ mới cập nhật đến hết tháng 6/2009. Nên nhớ Luật Quản lý nợ công quy định Bộ Tài chính phải công khai thông tin về nợ công, “bao gồm tổng số dư nợ, cơ cấu nợ trong nước, nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của chính quyền địa phương, số liệu vốn vay thực nhận và trả nợ hàng năm, các chỉ tiêu giám sát nợ chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia”.

Cuối cùng, kỳ họp Quốc hội sắp tới là kỳ họp đầu tiên sau khi Luật Quản lý nợ công có hiệu lực. Mặc dù ở trên có nói không nên chỉ chú trọng đến tỷ lệ trong quản lý nợ công, các tỷ lệ này dù sao cũng là những chỉ báo quan trọng mà Quốc hội cần theo dõi. Quốc hội cần áp dụng luật và quyết định các chỉ tiêu như nợ công so với GDP, nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, trả nợ chính phủ so với tổng thu ngân sách nhà nước.

Nợ công đang và sẽ là vấn đề của kinh tế toàn cầu trong thời điểm hiện nay. Không thể để tình trạng nợ công không ai biết rõ như trước được nữa.
www.SAGA.vn - Nhim3003 | Theo ThoibaokinhteSaiGon

Thursday, January 6, 2011

Thuế trên thặng dư vốn (Capital Gains Tax)

Đây là môt loại thuế đánh trên lượng vốn do cá nhân hay doanh nghiệp thu được. Lượng vốn này là khoản lãi mà nhà đầu tư thu được từ việc bán các tài sản vốn tại một mức giá cao hơn mức giá khi họ mua tài sản này. Một nhà đầu tư có thể nắm giữ các cổ phiếu mà giá của chúng tăng liên tục qua các năm, tuy nhiên chỉ khi nào nhà đầu tư này bán số cổ phiếu của mình thì họ mới bị đánh thuế. Luật thuế của các quốc gia thì có nhiều nét khác nhau song nhìn chung đều áp dụng một số mô hình thuế thặng dư vốn nhất định.

Dưới đây là hệ thống thuế tại một số nơi trên thế giới:

Australia : Chỉ phải trả thuế đánh trên thặng dư vốn tại Australia khi nào có thặng dư vốn từ hoạt động đầu tư. Đây không phải là một sắc thuế riêng mà nó là một bộ phận của hệ thống thuế thu nhập. Thặng dư vốn là tiền thu được từ việc bán tài sản sau khi đã trừ đi chi phí ban đầu của nó. Miễn giảm thuế được xét cho từng trường hợp cụ thể. Kể từ ngày 21 tháng 9 năm 1999, các cá nhân và quỹ tương hỗ sẽ được giảm 50 % thuế thặng dư vốn đối với các giao dịch phát sinh sau thời gian này.

Bỉ: Bỉ không đánh thuế trên vốn thặng dư.

Canada: Tại quốc gia này, 50% thặng dư vốn sẽ bị đánh thuế với mức thuế thu nhập bình thường. Hiện tại vẫn chưa có sự khác biệt giữa thặng dư vốn dài hạn và thặng dư vốn ngắn hạn. Tuy nhiên cũng có một vài ngoại lệ, ví dụ như bán nhà riêng là một hoạt động không chịu thuế.

Pháp: Các khoản thặng dư vốn đều chịu chung một mức thuế là 27%, tuy nhiên trong một số trường hợp đặ biệt mức thuế này có thể được giảm xuống hoặc miễn trừ (vd: bán nhà riêng )

Đức: Hiện tại Đức vẫn chưa đánh thuế đối với lượng vốn thu được sau khi nắm giữ bất động sản trong vòng 10 năm hoặc cổ phiếu trong khoảng thời gian 1 năm. Tuy nhiên Quốc gia này đang lên kế hoạch áp dụng thuế trên vốn thặng dư với mức thuế suất từ 20% đến 30%, bắt đầu vào năm 2008 hoặc 2009.

1240015.jpgHồng Kông: Hồng Kông không đánh thuế đối với thặng dư vốn. Điều này đã tạo kẽ hở trong luật pháp, từ đó các giám đốc có thể lựa chọn hưởng mức lương khoảng 600.000HK$ và sở hữu một số cổ phần hoặc quyền chọn cổ phiếu, do đó họ được hưởng mức thuế thu nhập thấp nhất.

Ấn Độ: Hiện tại Ấn Độ vẫn chưa áp loại thuế này đối với các cổ phiếu có thời gian nắm giữ trên 3 năm. Tuy nhiên, các cổ phiếu ngắn hạn vẫn phải chịu mức thuế là 10%
Từ năm 2006, cổ phiếu được coi là vốn dài hạn nếu thời gian nắm giứ từ một năm trở lên. Thặng dư vốn đầu tư dài hạn sẽ chịu mức thuế suất là 10% đến 30%.
Thặng dư vốn ngắn hạn vẫn bị đánh thuế như thường, tuy nhiên nếu đầu tư ngắn hạn tương tự mà bị lỗ thì có thể dùng thặng dư này để bù đắp.

Ba Lan: Kể từ năm 2004, Ba Lan áp dụng một mức thuế chung là 19% đối với thặng dư vốn. Trong đó bao gồm: bán cổ phần, trái phiếu, cổ phần quỹ tương hỗ và cả lãi suất tiền gửi tại ngân hàng.

Singapore: Singapore không đánh thuế thặng dư vốn.

Thụy Điển: Mức thuế này ở Thụy Điển là 30%.

Thụy Sỹ: Không áp thuế.

Thái Lan: Không có riêng sắc thuế đối với thặng dư vốn ở Thái Lan. Toàn bộ thặng dư vốn đều chịu cùng một mức thuế như các thu nhập thông thường khác. Tuy nhiên nếu các cá nhân thu được thặng dư vốn từ các chứng khoán trên sàn chứng khoán Thái Lan, thu nhập này sẽ không bị đánh thuế thu nhập cá nhân.

Mỹ: Đối với thặng dư vốn dài hạn, tức là thu nhập từ việc bán các tài sản có thời gian nắm giữ trên 1 năm, mức thuế là 15% hoặc 5% đối với cá nhân có thu nhập thấp. Các khoản thặng dư ngắn hạn bị áp mức thuế cao hơn, đó là chịu mức thuế thu nhập thông thường. Tuy nhiên vào năm 2011, chính phủ Mỹ dự định sẽ có sự điều chỉnh đối với loại thuế này, có thể tăng lên mức 20% như trước năm 2003

Tổng hợp

Wednesday, January 5, 2011

Chỉ tiêu Nhu cầu vốn lưu động trong thẩm định cho vay

Về công thức tính Nhu cầu vốn lưu động trong phân tích tài chính, mình thấy ở một số tài liệu ghi các cách tính khác nhau:

- NCVLD = Giá trị TSLD - Nợ Ngắn hạn phi ngân hàng - Nợ Ngắn hạn có thể sử dụng.

Vậy 2 cách tính này - cách nào là chính xác. Và ý nghĩa của chỉ tiêu Nhu cầu vốn lưu động là gì trong thẩm định cho vay?

Vốn lưu động và cân bằng tài chính

Cân bằng tài chính là là kết quả từ việc đối chiếu tính thanh khoản của những tài sản xác định các luồng thu về trong tương lai và tính tới hạn của những khoản nợ xác định các luồng chi ra trong tương lai.

Nói cách khác, cân bằng tài chính được định nghĩa bởi sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn, bởi sự điều hoà giữa thời gian biến đổi tài sản thành tiền và nhịp độ hoàn trả các khoản nợ tới hạn. Vì vậy các số liệu về ngân quỹ và sự thay đổi ngân quỹ không thể chỉ báo chính xác các điều kiện cân bằng tài chính.

Xét về tổng thể, việc nắm giữ các tài sản dài hạn có tính thanh khoản thấp đòi hỏi nắm giữ các nguồn vốn lâu dài. Chính từ nhận định này mà nguyên tắc truyền thống của cân bằng tài chính là các tài sản cố định phải được tài trợ bởi các nguồn vốn dài hạn (vốn chủ sử hữu và vốn vay). Theo nguyên tắc này, cân bằng được duy trì bằng sự bù đắp của các luồng tiền (tương ứng với khấu hao tài sản cố định) với các khoản trả nợ (vốn và lãi) hàng năm. Tính ổn định của tài sản cũng như nguồn vốn không những đảm bảo sự cân bằng nhất thời mà còn duy trì được sự cân bằng về dài hạn. Phần trội của tổng nguồn vốn dài hạn so với tổng tài sản cố định được gọi là vốn lưu động, tạo thành một biên an toàn cho cân bằng tài chính.

Tuy nhiên, khả năng tài trợ cho tài sản cố định chưa đủ để đảm bảo cân bằng tài chính. Các tài sản lưu động khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh cũng làm một phần nguồn vốn trở nên bất động nằm trong giá trị tồn kho và các khoản phải thu. Chênh lệch của tổng các khoản này với tổng các khoản phải trả tạo thành nhu cầu về vốn lưu động (sẽ được đề cập trong bài viết sau), luôn thay đổi theo nhịp độ sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ có được cân bằng tài chính khi vốn lưu động đủ khả năng bù đắp cho nhu cầu này.

Vốn lưu động, từ đó, được coi là một chỉ báo về khả năng thanh toán tại một thời điểm cũng như khả năng thanh toán trong tương lai. Vốn lưu động cũng là cầu nối giữa cân bằng tài chính dài hạn và ngắn hạn vì vậy mà việc tính toán chính xác vốn lưu động cũng tuỳ thuộc vào quan niệm của từng doanh nghiệp.

Vốn lưu động được tính = Vốn dài hạn – Tài sản cố định (1)

hoặc

Vốn lưu động được tính = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn (2)

Còn có thể đánh giá vốn lưu động thông qua tỷ lệ giữa:

- Vốn dài hạn / Tài sản cố định = Tài sản lưu động / Nợ ngắn hạn

- Nếu tỷ lệ này lớn hơn 1 (>1), vốn lưu động có giá giá trị dương và ngược lại.

Vốn lưu động chủ sở hữu là một phần của tổng vốn lưu động tạo nên bởi nguồn vốn chủ sở hữu sau khi thực hiện chia lợi nhuận cuối kỳ. Có thể tính thêm vốn lưu động chủ sở hữu qua phương trình:

Tài sản cố định + Tài sản lưu động = Vốn chủ sở hữu + Vốn lưu động chủ sở hữu + Nợ dài hạn + Nợ ngắn hạn

Vốn lưu động chủ sở hữu chứng tỏ mọi tài sản cố định đều đã được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu. Nói cách khác, đây là hình ảnh của việc các khoản đầu tư có độ rủi ro cao (dàn hạn) phải được tài trợ các cổ đông, hay người góp vốn, những người trên lý thuyết đóng vai trò chấp nhận rủi ro.

Theo Diendanquantri

Sunday, January 2, 2011

Đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính

Đòn bẩy hoạt động liên quan đến kết quả của các cách kết hợp khác nhau giữa chi phí cố định (chi phí không thay đổi khi số lượng thay đổi như chi phí khấu hao) và chi phí biến đổi (chi phí thay đổi khi số lượng biến đổi như chi phí nguyên vật liệu, lao động trực tiếp).

Nói cách khác, tỷ số giữa chi phí cố định và chi phí biến đổi mà công ty sử dụng quyết định đòn bẩy hoạt động. Một công ty có tỷ số chi phí cố định so với chi phí biến đổi lớn hơn thì được cho là sử dụng đòn bẩy hoạt động nhiều hơn và ngược lại.

Đòn bẩy tài chính xuất hiện khi công ty quyết định tài trợ cho phần lớn tài sản của mình bằng nợ vay. Các công ty chỉ làm điều này khi nhu cầu vốn cho đầu tư của doanh nghiệp khá cao mà vốn chủ sở hữu không đủ để tài trợ. Khoản nợ vay của công ty sẽ trở thành khoản nợ phải trả, lãi vay được tính dựa trên số nợ gốc này. Thông thường, một doanh nghiệp chỉ sử dụng nợ khi có thể tin chắc rằng tỷ suất sinh lợi trên tài sản cao hơn lãi suất vay nợ.

Có một điểm khác biệt lý thú giữa đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính là công ty có thể lựa chọn đòn bẩy tài chính trong khi không thể lựa chọn đòn bẩy hoạt động. Đòn bẩy hoạt động do đặc điểm hoạt động của công ty quyết định, ví dụ công ty hoạt động trong ngành luyện thép có đòn bẩy hoạt động cao trong khi công ty hoạt động trong ngành dịch vụ như du lịch hay tư vấn có đòn bẩy hoạt động thấp. Nhưng đòn bẩy tài chính thì khác, không có công ty nào bị ép buộc phải sử dụng nợ để tài trợ cho hoạt động của mình mà thay vào đó công ty có thể sử dụng nguồn vốn từ việc phát hành cổ phiếu thường. Tuy nhiên trên thực tế, ít có công ty nào không sử dụng đòn bẩy tài chính.

Một công ty đồng thời có tỷ lệ đòn bẩy hoạt động và đòn bẩy tài chính cao thì sẽ rất rủi ro trong đầu tư. Một tỷ lệ đòn bẩy hoạt động cao có nghĩa là doanh nghiệp đang tạo ra ít doanh thu nhưng có lợi nhuận biên tế (lợi nhuận trước thuế chia cho doanh thu thuần) trên mỗi đơn vị sản phẩm cao. Điều này tiềm ẩn rủi ro cho việc dự báo chính xác doanh thu trong tương lai. Chỉ cần một sự sai lệch nhỏ trong dự báo doanh thu so với thực tế diễn ra thì nó đã có thể tạo ra một khoảng cách sai lệch đáng kể giữa dòng tiền thực tế và dòng tiền theo dự toán. Điều này rất quan trọng, nó có thể sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng hoạt động của công ty trong tương lai. Rủi ro doanh nghiệp gặp phải sẽ tăng lên cực đại khi tỷ lệ đòn bẩy hoạt động cao kết hợp thêm với tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao, trong khi tỷ suất sinh lợi trên tài sản không cao hơn mức lãi suất vay nợ. Từ đó có thể làm giảm tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và lợi nhuận của doanh nghiệp.

ĐTCK

Vốn cố định và vốn lưu động

Vốn cố định:

Định nghĩa: Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp.

1. Khái niệm tài sản cố định:

Tài sản cố định là những tư liệu lao động đáp ứng hai tiêu chuẩn sau:

- Thời gian sử dụng: Từ một năm trở lên

- Tiêu chuẩn về giá trị: Phải có giá trị tối thiểu ở một mức nhất định do Nhà nước quy định phù hợp với tình hình kinh tế của từng thời kỳ (theo chế độ kế toán ban hành theo quyết định 15/2006/BTC thì TSCĐ có giá từ 10.000.000 trở lên)

2. Phân loại TSCĐ:

a) Cách phân loại thông dụng nhất là theo hình thái biểu hiện, TSCĐ được chia thành 2 loại: TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.

* TSCĐ hữu hình: Là những tài sản có hình thái, vật chất, được chia thành các nhóm sau:

- Nhà cửa, vật kiến trúc

- Máy móc, thiết bị

- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn

- Thiết bị, dụng cụ quản lý.

- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm.

- Các TSCĐ hữu hình khác.

* TSCĐ Vô hình:

Là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện những lượng giá trị lớn mà doanh nghiệp đã đầu tư, liên quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh. Bao gồm các loại sau:

- Quyền sử dụng đất

- Chi phí thành lập doanh nghiệp

- Chi phí về bằng phát minh sáng chế

- Chi phí nghiên cứu phát triển

- Chi phí về lợi thế thơng mại

- Quyền đặc nhượng

- Nhãn hiệu th ươ ng mại…..

b) Phân loại TSCĐ theo tình hình sử dụng, có các loại:

- TSCĐ đang dùng

- TSCĐ chưa dùng

- TSCĐ không cần dùng và chờ thanh lý

c) Phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế

d) Phân loại TSCĐ theo mục đích sử dụng

---------------------------------

Vốn lưu động

1. Nội dung của vốn lưu động:

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động của doanh nghiệp.

Tài sản lưu động của doanh nghiệp thường gồm 2 bộ phận: Tài sản lưu động trong sản xuất và tài sản lưu động trong lưu thông.

Tài sản lưu động trong sản xuất là những vật tư dự trữ như nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu … và sản phẩm dở dang trong quá trình sản xuất.

Tài sản lưu động trong lưu thông bao gồm: Sản phẩm hàng hóa chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán, các khoản phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước …

2. Phân loại vốn lưu động.

Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, thông thường vốn lưu động được phân loại theo các tiêu thức khác nhau:

a) Phân loại theo hình thái biểu hiện: Theo tiêu thức này, vốn lưu động được chia thành:

- Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán

+ Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, kể cả kim loại quý (Vàng, bạc, đá quý …)

+ Vốn trong thanh toán: Các khoản nợ phải thu của khách hàng, các khoản tạm ứng, các khoản phải thu khác..

- Vốn vật tư hàng hóa (hay còn gọi là hàng tồn kho) bao gồm nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ lao động, sản phẩm dở dang và thành phẩm.

- Vốn về chi phí trả trước: Là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã phát sinh có liên quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh nên được phân bổ vào giá thành sản phẩm của nhiều chu kỳ kinh doanh như: chi phí sửa chữa lớn TSCĐ, chi phí thuê tài sản, chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về ván khuôn, giàn giáo, phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản …

b) Phân loại vốn theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Theo cách phân loại này vốn lưu động được chia thành 3 loại:

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: Bao gồm giá trị các khoản nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ lao động nhỏ.

- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Bao gồm giá trị sản phẩm dở dang và vốn về chi phí trả trước.

- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Bao gồm giá trị thành phẩm, vốn bằng tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay ngắn hạn …) các khoản vốn trong thanh toán (các khoản phải thu, tạm ứng …)

Giáo trình TCDN - Học viện tài chính - HN

Sáp nhập, mua lại làm tăng giá trị cho các cổ đông như thế nào?

Việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư làm tăng giá trị cổ phần cho các cổ đông là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của các nhà quản trị doanh nghiệp, đồng thời đây cũng là một trong những tiêu chuẩn hàng đầu mà các nhà đầu tư tìm kiếm ở các cơ hội đầu tư. Sáp nhập và mua lại (M&A) được xem là một trong những cách thức được các nhà quản trị sử dụng để thực hiện mục tiêu ấy. Với sự bùng nổ của các vụ M&A trên thế giới và ở Việt Nam trong thời gian qua đã chứng tỏ được phần nào sức hút mạnh mẽ của hoạt động M&A. Hẳn nhiên thế giới M&A không hoàn toàn chứa những điều kỳ diệu, không phải phi vụ M&A nào cũng thành công như mong đợi. Thậm chí, có thể số vụ thất bại còn gấp nhiều lần so với số vụ M&A thành công. Thế nhưng một khi thành công, M&A lại có khả năng làm tăng giá trị cho các cổ đông đến kinh ngạc. Do vậy, có thể hiểu vì sao M&A tiếp tục chứng tỏ sức hấp dẫn của mình trên thị trường.

Bằng cách nào mà giá trị của các doanh nghiệp có thể tăng lên đáng kể thông qua việc mua lại hoặc sáp nhập với một công ty khác. Nói cách khác, giá trị của các cổ đông đã gia tăng như thế nào qua việc thực hiện M&A?

Định giá các công ty M&A

Gía trị của một doanh nghiệp được nhà đầu tư đánh giá thông qua các kỳ vọng về doanh nghiệp đó trong tương lai. Một cách đơn giản nhất để thực hiện định giá một doanh nghiệp đó chính là việc đưa tất cả các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai chiết khấu về hiện tại với mức lãi suất chiết khấu hợp lý. Tuỳ theo mức đòi hỏi tỷ suất sinh lợi khác nhau của từng nhà đầu tư mà họ sẽ quyết định đầu tư hay không? Cổ đông của doanh nghiệp luôn luôn kỳ vọng vào khả năng sinh lợi hiệu quả khi quyết định đầu tư vào các cơ hội đầu tư có nhiều rủi ro. Chi phí sử dụng vốn đựơc xem xét như một yếu tố then chốt khi các nhà quản trị thực hiện quyết định đầu tư. Chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp có ý nghĩa như là tỷ suất sinh lợi đòi hỏi tối thiểu trong một quyết định đầu tư. Tiềm năng hoạt động của một doanh nghiệp ( chính là dòng tiền tương lai có thể mang lại cho các cổ đông) luôn luôn bao gồm các cơ hội đầu tư và các rủi ro đi kèm.

Sáp nhập và mua lại là một cơ hội đầu tư hiệu quả được các nhà quản trị lưu tâm. Thường thì M&A sẽ ảnh hưởng ngay đến việc định giá cổ phần.

Sự hợp tác có lợi cho cả đôi bên.

Các doanh nghiệp đang theo đuổi các chiến lược có lợi cho cả đôi bên có thể chọn việc thực hiện một kế hoạch mua lại (acquisition). Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp một tập đoàn đang bị cạnh tranh quyết liệt. Khi đó, một công ty chiến lược lớn hoặc một quỹ đầu tư vốn cổ phần sẽ quyết định mua lại các đối thủ cạnh tranh nhỏ hơn để giảm bớt áp lực cạnh tranh và tạo thành một tập đoàn hợp nhất. Ví dụ như lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử. Đây là một lĩnh vực đòi hỏi chi phí cho bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D) rất lớn. Các doanh nghiệp sản maintro1.jpgxuất linh kiện điện tử thường chi tiêu rất nhiều tiền mặt cho việc nghiên cứu và phát triển nhằm mục đích có thể liên tục cho ra đời các loại chip thế hệ mới. Các doanh nghiệp như thế này đã rất khôn ngoan khi thực hiện việc kết hợp hoạt động của mình với một doanh nghiệp lớn hơn, có doanh số cao hơn nhằm tranh thủ sự hỗ trợ kinh phí cho việc thực hiện công việc R&D. Điều này sẽ làm chi phí nghiên cứu thấp xuống cũng như sẽ làm tăng doanh thu ròng. Khi các sản phẩm nhiều hơn, doanh nghiệp sẽ có thêm lợi thế cạnh tranh và khả năng dẫn đầu ngành sẽ không chỉ là tương lai xa. Vì vậy giá chứng khoán tăng lên là điều dễ hiểu do việc tiến hành mua lại này được kỳ vọng sẽ tạo nên nhiều tiền mặt hơn cho doanh nghiệp mới.

Mở rộng thị trường

Các nhà quản trị có lẽ cũng theo đuổi các vụ mua lại như một cách thức để gia tăng thị phần, mở rộng thị trường. Cách thức thường gặp trong trường hợp này là một doanh nghiệp muốn thực hiện việc bán hàng hiệu quả hơn kết hợp với một doanh nghiệp chuyên về marketing. Các nhà quản trị sẽ tạo nên mối liên kết giữa 2 doanh nghiệp như việc đề xuất những nhân viên bán hàng xuất sắc nhất và giao nhiệm vụ cho những nhà quản trị marketing tài năng nhất để họ có thể có những phối hợp tốt nhất thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp bán hàng. Ngược lại, hoạt động mua lại cũng giúp các doanh nghiệp có thể cắt giảm các nhân sự bán hàng hoặc các sản phẩm không hiệu quả. Như vậy, quy trình huấn luyện và bán hàng mới đã làm tăng tổng doanh thu cho doanh nghiệp thông qua đẩy nhanh hàng hoá với người tiêu dùng.


Những phối hợp kiểu như trên không chỉ giới hạn trong lĩnh vực bán hàng và marketing, nó có thể được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực mà các doanh nghiệp có thể kết hợp với nhau. Các nhà quản trị đã rút ra nhận định, thông thường các vụ mua lại và các phối hợp như vậy sẽ thành công với các công ty trong lĩnh vực nhân sự, công nghệ thông tin, tài chính, hay các công ty sản xuất với nhau... Việc xúc tiến và tăng cường áp dụng các quy trình tối ưu trong các bộ phận khác nhau đã làm cho một tổ chức trở nên mạnh hơn. Và dĩ nhiên là, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi các công ty kinh doanh hiệu quả như vậy được thị trường đánh giá cao.

Giá cả cạnh tranh

Một số công ty chủ động thực hiện hoạt động M&A nhằm mục đích mở rộng thị trường. Thị phần cao hơn sẽ dẫn đến hiện tượng sức mua tăng cao hơn khả năng cung cấp. Các đơn đặt hàng gia tăng, doanh nghiệp phải sản xuất nhiều sản phẩm hơn, và do đó giá cả nguyên vật liệu sẽ giảm xuống, cho phép công ty có thể có được một giá cả cạnh tranh hơn. Khi nhà cung cấp thoả mãn với chi phí biên giảm trên mỗi đơn vị, họ cũng sẵn lòng thực hiện các khoản chiết khấu nhiều hơn cho khách hàng. Điều này cho thấy vòng quay sản phẩm và dịch vụ của họ đang tăng nhanh hơn. Nếu lợi nhuận biên trên mỗi đơn vị sản phẩm giảm nhưng số lượng hàng car2.jpgbán tăng đạt đến một mức nào đó, thì xét về tổng thể các nhà cung cấp vẫn tạo được nhiều lợi nhuận tiền mặt hơn. Ví dụ như Wal-Mart, xét về doanh thu, đây là công ty bán lẻ lớn nhất thế giới, sức mua của người dân luôn cao hơn khả năng của nhà cung cấp. Cũng với chiến lược như vậy, Wal-Mart đã tạo ra được sản phẩm có gía cả cạnh tranh hơn so với các đối thủ.

Đa dạng hoá sản phầm, dịch vụ

Các công ty cũng tiến hành mua lại các công ty khác, có các sản phẩm, dịch vụ bổ sung nhằm mục đích đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ của mình. Bằng cách tăng thêm các lựa chọn đối với hàng hoá và dịch vụ mà công ty cung cấp cho các khách hàng tiêu dùng hiện tại, các nhà quản trị có thể tạo ra nhiều doanh thu hơn cho công ty của mình.

Thí dụ, các hãng, đại lý bán xe hơi không chỉ bán xe mà họ còn cung cấp các đồ phụ tùng thay thế kèm theo, thực hiện các dịch vụ hậu mãi sẽ tạo cho khách hàng có cảm giác tiện lợi hơn. Thường thì các dịch vụ sửa chữa sau khi mua có khả năng tạo ra lợi nhuận tốt hơn, thậm chí còn tạo ra mức lợi nhuận biên cao hơn so với sản phẩm chính mà doanh nghiệp cung cấp.

Hiệu quả vận hành

Các vụ mua lại cũng có thể được sử dụng để cải thiện khả năng vận hành của một doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp sản xuất. Bởi vì các khách hàng doanh nghiệp sẽ thường xuyên đánh giá khả năng cung ứng hàng hoá định kỳ nên một khi mọi quy trình sản xuất được vận hành nhịp nhàng thì doanh nghiệp có thể gia tăng khả năng sản xuất và sự tín nhiệm của khách hàng cũng theo đó mà được gia tăng. Đây chính là một yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của một doanh nghiệp. Thêm nữa, các doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động mua lại với nhau sẽ có nhiều biện pháp để giảm hoặc hạn chế các bộ phận giống nhau hoặc các chức năng chồng chéo nhau. Ví dụ, lĩnh vực luật, tài chính và bộ phận nguồn nhân lực có thể kết hợp sẽ có thể làm giảm chi phí.

Thay lời kết

Nói một cách ngắn gọn thì các công ty lớn hơn thường sẽ có khuynh hướng mong muốn được thị trường định giá cao hơn. Một doanh nghiệp nhỏ với doanh thu khoảng 10 triệu USD và biên lợi nhuận ròng khoảng 10% thì sẽ được định giá thấp hơn một doanh nghiệp có doanh thu 100 triệu USD có cùng biên lợị nhuận ròng là 10%. Các công ty lớn hơn được nhà đầu tư mặc định là có rủi ro doanh nghiệp ít hơn. Bởi vì các dòng tiền hoạt động lớn hơn sẽ cho phép các nhà quản trị đủ khả năng đáp ứng nghĩa vụ đối với các chủ nợ. Cũng như lúc đầu đã đề cập, việc định giá một doanh nghiệp phụ thuộc vào kỳ vọng dòng tiền trong tương lai mà nhà đầu tư mong đợi cho khoản đầu tư của mình. Do đó, các nhà quản trị luôn cố gắng để gia tăng hoặc ít nhất là duy trì tỷ suất sinh lợi tối thiểu cho cổ đông thông qua việc mua lại các doanh nghiệp khác, hi vọng với các phương thức khác nhau có thể làm gia tăng dòng tiền tương lai.


Hà Thanh Trung

Bản quyền © SAGA, www.saga.vn - 9/2007

MƯỜI NGUYÊN LÝ CỦA KINH TẾ HỌC

CHƯƠNG 1

MƯỜI NGUYÊN LÝ CỦA KINH TẾ HỌC

Thuật ngữ nền kinh tế (economy) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “người quản gia”. Thoạt tiên, điều này có vẻ lạ lùng. Nhưng trên thực tế, các hộ gia đình và nền kinh tế có rất nhiều điểm chung.

Cũng giống như một gia đình, xã hội phải đối mặt với nhiều quyết định. Một xã hội phải quyết định cái gì cần phải làm và ai sẽ làm việc đó. Cần phải có một số người sản xuất thực phẩm, một số người khác sản xuất quần áo và cũng cần có một số người thiết kế các phần mềm máy tính nữa. Một khi xã hội đã phân bổ được mọi người (và đất đai, nhà xưởng, máy móc) vào những ngành nghề khác nhau, nó cũng phải phân bổ sản lượng hàng hóa và dịch vụ mà họ đã sản xuất ra. Nó phải quyết định ai sẽ ăn trứng cá, ăn thịt và ai sẽ ăn rau. Nó phải quyết định ai sẽ đi xe con và ai sẽ đi xe buýt.

Việc quản lý nguồn lực của xã hội có ý nghĩa quan trọng vì nguồn lực có tính khan hiếm. Khan hiếm có nghĩa là xã hội có các nguồn lực hạn chế và vì thế không thể sản xuất mọi hàng hóa và dịch vụ mà mọi người mong muốn. Giống như một hộ gia đình không thể đáp ứng mọi mong muốn của tất cả mọi người, xã hội cũng không thể làm cho mỗi cá nhân có được mức sống cao nhất như họ khao khát.

Kinh tế học là môn học nghiên cứu cách thức xã hội quản lý các nguồn lực khan hiếm. Trong hầu hết các xã hội, nguồn lực được phân bổ không phải bởi một nhà làm kế hoạch duy nhất ở trung ương, mà thông qua sự tác động qua lại giữa hàng triệu hộ gia đình và doanh nghiệp. Do đó, các nhà kinh tế nghiên cứu con người ra quyết định như thế nào: họ làm việc bao nhiêu, mua cái gì, tiết kiệm bao nhiêu và đầu tư khoản tiết kiệm ấy ra sao. Các nhà kinh tế cũng nghiên cứu xem con người quan hệ qua lại với nhau như thế nào. Ví dụ, họ muốn phân tích xem làm thế nào mà nhiều người mua và bán một mặt hàng lại có thể cùng nhau xác định giá cả và lượng hàng bán ra. Cuối cùng, nhà kinh tế phân tích các lực lượng và xu thế tác động đến nền kinh tế với tư cách một tổng thể, bao gồm tăng trưởng của thu nhập bình quân, một bộ phận dân cư không thể tìm được việc và tỷ lệ tăng giá.

Mặc dù kinh tế học nghiên cứu nền kinh tế dưới nhiều giác độ khác nhau, nhưng môn học này thống nhất với nhau ở một số ý tưởng cơ bản. Trong phần còn lại của chương này, chúng ta sẽ xem xét mười nguyên lý của kinh tế học. Đừng lo ngại nếu như bạn chưa hiểu ngay tất cả các nguyên lý đó, hoặc nếu như bạn thấy các nguyên lý đó chưa hoàn toàn thuyết phục. Trong các chương tiếp theo, chúng ta sẽ khảo sát đầy đủ hơn các ý tưởng này. Mười nguyên lý được giới thiệu ở đây chỉ nhằm giúp độc giả có một cái nhìn tổng quan về kinh tế học. Bạn đọc có thể coi chương này là “sự báo trước những điều hấp dẫn sắp tới”.

CON NGƯỜI RA QUYẾT ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

“Nền kinh tế” là gì không hề có sự huyền bí nào cả. Dù chúng ta đang nói về nền kinh tế của Los Angeles, của Mỹ, hay của toàn thế giới, thì nền kinh tế cũng chỉ là một nhóm người tác động qua lại với nhau trong quá trình sinh tồn của họ. Bởi vì hoạt động của nền kinh tế phản ánh hành vi của các cá nhân tạo thành nền kinh tế, nên chúng ta khởi đầu nghiên cứu kinh tế học bằng bốn nguyên lý về cách thức ra quyết định cá nhân.


Nguyên lý 1: Con người đối mặt với sự đánh đổi

Bài học đầu tiên về ra quyết định được tóm tắt trong câu ngạn ngữ sau: “Chẳng có gì là cho không cả”. Để có được một thứ ưa thích, chúng ta thường phải từ bỏ một thứ khác mà mình thích. Ra quyết định đòi hỏi phải đánh đổi mục tiêu này để đạt được một mục tiêu khác.

Chúng ta hãy xem xét tình huống một cô sinh viên phải quyết định phân bổ nguồn lực quý báu nhất của mình: đó là thời gian của cô. Cô có thể dùng toàn bộ thời gian để nghiên cứu kinh tế học, dùng toàn bộ thời gian để nghiên cứu tâm lý học, hoặc phân chia thời gian giữa hai môn học đó. Đối với mỗi giờ học môn này, cô phải từ bỏ một giờ học môn kia. Đối với mỗi giờ học, cô phải từ bỏ một giờ mà lẽ ra cô có thể ngủ trưa, đạp xe, xem TV hoặc đi làm thêm.

Hoặc hãy xem xét cách thức ra quyết định chi tiêu thu nhập của gia đình của các bậc cha mẹ. Họ có thể mua thực phẩm, quần áo hay quyết định đưa cả nhà đi nghỉ. Họ cũng có thể tiết kiệm một phần thu nhập cho lúc về già hay cho con cái vào học đại học. Khi quyết định chi tiêu thêm một đô la cho một trong những hàng hóa trên, họ có ít đi một đô la để chi cho các hàng hóa khác.

Khi con người tập hợp nhau lại thành xã hội, họ đối mặt với nhiều loại đánh đổi. Ví dụ kinh điển là sự đánh đổi giữa “súng và bơ”. Chi tiêu cho quốc phòng càng nhiều để bảo vệ bờ cõi khỏi giặc ngoại xâm (súng), chúng ta có thể chi tiêu càng ít cho hàng tiêu dùng để nâng cao phúc lợi vật chất cho người dân (bơ). Sự đánh đổi quan trọng trong xã hội hiện đại là giữa môi trường trong sạch và mức thu nhập cao. Các đạo luật yêu cầu doanh nghiệp phải cắt giảm lượng chất thải gây ô nhiễm sẽ đẩy chi phí sản xuất lên cao. Do chi phí cao hơn, nên cuối cùng các doanh nghiệp này kiếm được ít lợi nhuận hơn, trả lương thấp hơn, định giá cao hơn hoặc tạo ra một kết hợp nào đó của cả ba yếu tố này. Như vậy, mặc dù các quy định về chống ô nhiễm đem lại ích lợi cho chúng ta ở chỗ làm cho môi trường trong sạch hơn và nhờ đó sức khỏe của chúng ta tốt hơn, nhưng chúng ta phải chấp nhận tổn thất là giảm thu nhập của chủ doanh nghiệp, công nhân hoặc phúc lợi của người tiêu dùng.

Một sự đánh đổi khác mà xã hội đối mặt là giữa công bằng và hiệu quả. Hiệu quả có nghĩa là xã hội thu được kết quả cao nhất từ các nguồn lực khan hiếm của mình. Công bằng hàm ý ích lợi thu được từ các nguồn lực khan hiếm đó được phân phối công bằng giữa các thành viên của xã hội. Nói cách khác, hiệu quả ám chỉ quy mô của chiếc bánh kinh tế, còn công bằng nói lên chiếc bánh đó được phân chia như thế nào. Thường thì khi thiết kế các chính sách của chính phủ, người ta nhận thấy hai mục tiêu này xung đột với nhau.

Chẳng hạn chúng ta hãy xem xét các chính sách nhằm đạt được sự phân phối phúc lợi kinh tế một cách công bằng hơn. Một số trong những chính sách này, ví dụ hệ thống phúc lợi xã hội hoặc bảo hiểm thất nghiệp, tìm cách trợ giúp cho những thành viên của xã hội cần đến sự cứu tế nhiều nhất. Các chính sách khác, ví dụ thuế thu nhập cá nhân, yêu cầu những người thành công về mặt tài chính phải đóng góp nhiều hơn người khác trong việc hỗ trợ cho hoạt động của chính phủ. Mặc dù các chính sách này có lợi là đạt được sự công bằng cao hơn, nhưng chúng gây ra tổn thất nếu xét từ khía cạnh hiệu quả. Khi chính phủ tái phân phối thu nhập từ người giàu sang người nghèo, nó làm giảm phần thưởng trả cho sự cần cù, chăm chỉ và kết quả là mọi người làm việc ít hơn và sản xuất ra ít hàng hóa và dịch vụ hơn. Nói cách khác, khi chính phủ cố gắng cắt chiếc bánh kinh tế thành những phần đều nhau hơn, thì chiếc bánh nhỏ lại.


Cần phải ý thức được rằng riêng việc con người phải đối mặt với sự đánh đổi không cho chúng ta biết họ sẽ hoặc cần ra những quyết định nào. Một sinh viên không nên từ bỏ môn tâm lý học chỉ để tăng thời gian cho việc nghiên cứu môn kinh tế học. Xã hội không nên ngừng bảo vệ môi trường chỉ vì các quy định về môi trường làm giảm mức sống vật chất của chúng ta. Người nghèo không thể bị làm ngơ chỉ vì việc trợ giúp họ làm bóp méo các kích thích làm việc. Mặc dù vậy, việc nhận thức được những sự đánh đổi trong cuộc sống có ý nghĩa quan trọng, bởi vì con người có thể ra quyết định tốt khi họ hiểu rõ những phương án lựa chọn mà họ đang có.

Nguyên lý 2: Chi phí của một thứ là cái mà bạn từ bỏ để có được nó

Vì con người đối mặt với sự đánh đổi, nên ra quyết định đòi hỏi phải so sánh chi phí và ích lợi của các đường lối hành động khác nhau. Song trong nhiều trường hợp, chi phí của một hành động nào đó không phải lúc nào cũng rõ ràng như biểu hiện ban đầu của chúng.

Chẳng hạn, chúng ta xem xét quyết định liệu có nên đi học đại học. Ích lợi là làm giàu thêm kiến thức và có được những cơ hội làm việc tốt hơn trong cả cuộc đời. Nhưng chi phí của nó là gì? Để trả lời câu hỏi này, bạn có thể bị thuyết phục cộng số tiền chi tiêu cho học phí, sách vở, nhà ở lại với nhau. Nhưng tổng số tiền này không thực sự biểu hiện những gì bạn từ bỏ để theo học một năm ở trường đại học.

Câu trả lời trên có vấn đề vì nó bao gồm cả một số thứ không thực sự là chi phí của việc học đại học. Ngay cả khi không học đại học, bạn vẫn cần một chỗ để ngủ và thực phẩm để ăn. Tiền ăn ở tại trường đại học chỉ là chi phí của việc học đại học khi nó đắt hơn những nơi khác. Dĩ nhiên, tiền ăn ở tại trường đại học cũng có thể rẻ hơn tiền thuê nhà và tiền ăn mà bạn tự lo liệu. Trong trường hợp này, các khoản tiết kiệm về ăn ở là lợi ích của việc đi học đại học.

Cách tính toán chí phí như trên có một khiếm khuyết khác nữa là nó bỏ qua khoản chi phí lớn nhất của việc học đại học - đó là thời gian của bạn. Khi dành một năm để nghe giảng, đọc giáo trình và viết tiểu luận, bạn không thể sử dụng khoảng thời gian này để làm một công việc nào đó. Đối với nhiều sinh viên, khoản tiền lương phải từ bỏ để đi học đại học là khoản chi phí lớn nhất cho việc học đại học của họ.

Chi phí cơ hội của một thứ là cái mà bạn từ bỏ để có được nó. Khi đưa ra bất kỳ quyết định nào, chẳng hạn như việc liệu có nên đi học đại học, người ra quyết định phải nhận thức được những chi phí cơ hội gắn với mỗi hành động có thể. Trên thực tế, họ thường ý thức được. Những vận động viên ở lứa tuổi học đại học - những người có thể kiếm bạc triệu nếu họ bỏ học và chơi các môn thể thao nhà nghề - hiểu rõ rằng đối với họ, chi phí cơ hội của việc ngồi trên giảng đường là rất cao. Không có gì đáng ngạc nhiên khi họ thường cho rằng ích lợi của việc học đại học là không xứng với chi phí bỏ ra.

Nguyên lý 3: Con người duy lý suy nghĩ tại điểm cận biên

Các quyết định trong cuộc sống hiếm khi minh bạch, mà thường ở trạng thái mù mờ. Khi đến giờ ăn tối, vấn đề bạn phải đối mặt không phải là sẽ “thực như hổ” hay “thực như miêu”, mà là có nên ăn thêm một chút khoai tây nghiền hay không. Khi kỳ thi đến, vấn đề không phải là bỏ mặc bài vở hoặc học 24 giờ một ngày, mà là nên học thêm một giờ nữa hay dừng lại xem ti vi. Các nhà kinh tế sử dụng thuật ngữ những thay đổi cận biên để chỉ những điều chỉnh gia tăng nhỏ so với kế hoạch hành động hiện tại. Bạn hãy luôn luôn nhớ


rằng "cận biên" có nghĩa là "bên cạnh" và bởi vậy thay đổi cận biên là những điều chỉnh ở

vùng lân cận của cái mà bạn đang làm.

Trong nhiều tình huống, mọi người đưa ra được quyết định tốt nhất nhờ suy nghĩ tại điểm cận biên. Giả sử bạn muốn một người bạn đưa ra lời khuyên về việc nên học bao nhiêu năm ở trường. Nếu anh ta phải so sánh cho bạn cách sống của một người có bằng tiến sĩ với một người chưa học hết phổ thông, bạn có thể sẽ phàn nàn rằng sự so sánh như thế chẳng giúp gì cho quyết định của bạn cả. Bạn đã có một số trình độ nhất định và bạn đang cần quyết định liệu có nên học thêm một hay hai năm nữa. Để ra được quyết định này, bạn cần biết ích lợi tăng thêm nhờ học thêm một năm nữa (tiền lương cao hơn trong suốt cuộc đời, niềm vui được chuyên tâm học hành) và biết chi phí tăng thêm mà bạn sẽ phải chịu (học phí và tiền lương mất đi trong bạn vẫn học ở trường). Bằng cách so sánh ích lợi cận biên và chi phí cận biên, bạn có thể đi đến kết luận rằng việc học thêm một năm có đáng giá hay không.

Chúng ta hãy xem xét một ví dụ khác. Một hãng hàng không đang cân nhắc nên tính giá vé bao nhiêu cho các hành khách bay dự phòng. Giả sử một chuyến bay với 200 chỗ từ đông sang tây làm cho nó tốn mất 100.000 đô la. Trong tình huống này, chi phí bình quân cho mỗi chỗ ngồi là 100.000 đô la/200, tức 500 đô la. Người ta có thể dễ dàng đi đến kết luận rằng hãng hàng không này sẽ không bao giờ nên bán vé với giá thấp hơn 500 đô la. Song trên thực tế, nó có thể tăng lợi nhuận nhờ suy nghĩ ở điểm cận biên. Chúng ta hãy tưởng tượng ra rằng máy bay sắp sửa cất cánh trong khi vẫn còn 10 ghế bỏ trống và có một hành khách dự phòng đang đợi ở cửa sẵn sàng trả 300 đô la cho một ghế. Hãng hàng không này có nên bán vé cho anh ta không? Dĩ nhiên là nên. Nếu máy bay vẫn còn ghế trống, chi phí của việc bổ sung thêm một hành khách là không đáng kể. Mặc dù chi phí bình quân cho mỗi hành khách trên chuyến bay là 500 đô la, chi phí cận biên chỉ bằng giá của gói lạc và hộp nước sô đa mà hành khách tăng thêm này sẽ tiêu dùng. Chừng nào mà người hành khách dự phòng này còn trả cao hơn chi phí cận biên, thì việc bán vé cho anh ta còn có lợi.

Những ví dụ trên cho thấy rằng các cá nhân và doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định tốt hơn nhờ cách suy nghĩ ở điểm cận biên. Người ra quyết định duy lý hành động chỉ khi ích lợi cận biên vượt quá chi phí cận biên.

Nguyên lý 4: Con người phản ứng với các kích thích

Vì mọi người ra quyết định dựa trên sự so sánh chi phí và ích lợi, nên hành vi của họ có thể thay đổi khi ích lợi hoặc chi phí thay đổi. Nghĩa là mọi người phản ứng đối với các kích thích. Ví dụ khi giá táo tăng, mọi người quyết định ăn nhiều lê hơn và ít táo hơn, vì chi phí của việc mua táo cao hơn. Đồng thời, người trồng táo quyết định thuê thêm công nhân và thu hoạch nhiều táo hơn vì lợi nhuận thu được từ việc bán táo cũng cao hơn. Như chúng ta sẽ thấy, tác động của giá cả lên hành vi của người mua và người bán trên thị trường - trong trường hợp này là thị trường táo - có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu phương thức vận hành của nền kinh tế.

Các nhà hoạch định chính sách công cộng không bao giờ được quên các kích thích, vì nhiều chính sách làm thay đổi ích lợi hoặc chi phí mà mọi người phải đối mặt và bởi vậy làm thay đổi hành vi của họ. Ví dụ việc đánh thuế xăng khuyến khích mọi người sử dụng ô tô nhỏ hơn, tiết kiệm nhiên liệu hơn. Nó cũng khuyến khích mọi người sử dụng phương tiện giao thông


công cộng chứ không đi xe riêng và sống ở gần nơi làm việc hơn. Nếu thuế xăng cao đến một mức độ nhất định, mọi người có thể sẽ bắt đầu sử dụng ô tô chạy điện.

Khi các nhà hoạch định chính sách không tính đến ảnh hưởng của các chính sách mà họ thực hiện đối với các kích thích, họ có thể nhận được những kết quả không định trước. Chẳng hạn, chúng ta hãy xem xét chính sách về an toàn đối với ô tô. Ngày nay, tất cả ô tô đều được trang bị dây an toàn, nhưng 40 năm trước đây không phải như vậy. Cuốn sách Nguy hiểm ở mọi tốc độ của Ralph Nader đã làm công chúng phải rất lo lắng về vấn đề an toàn khi đi ô tô. Quốc hội đã phản ứng bằng cách ban hành các đạo luật yêu cầu các nhà sản xuất ô tô phải trang bị nhiều thiết bị an toàn, trong đó có dây an toàn và các thiết bị tiêu chuẩn khác trên tất cả những ô tô mới sản xuất.

Luật về dây an toàn tác động tới sự an toàn khi lái ô tô như thế nào? Ảnh hưởng trực tiếp là rõ ràng. Khi có dây thắt an toàn trong tất cả ô tô, nhiều người thắt an toàn hơn và khả năng sống sót trong các vụ tai nạn ô tô nghiêm trọng tăng lên. Theo nghĩa này, dây an toàn đã cứu sống con người. Nhưng vấn đề không dừng ở đó. Để hiểu đầy đủ tác động của đạo luật này, chúng ta phải nhận thức được rằng mọi người thay đổi hành vi khi có kích thích mới. Hành vi đáng chú ý ở đây là tốc độ và sự cẩn trọng của người lái xe. Việc lái xe chậm và cẩn thận là tốn kém vì mất nhiều thời gian và tốn nhiều nhiên liệu. Khi ra quyết định về việc cần lái xe an toàn đến mức nào, người lái xe duy lý so sánh ích lợi cận biên từ việc lái xe an toàn với chi phí cận biên. Họ lái xe chậm hơn và cẩn thận hơn nếu ích lợi của sự cẩn trọng cao. Điều này lý giải vì sao mọi người lái xe chậm và cẩn thận khi đường đóng băng hơn nếu so với trường hợp đường thông thóang.

Bây giờ chúng ta hãy xét xem đạo luật về dây an toàn làm thay đổi tính toán ích lợi - chi phí của người lái xe như thế nào. Dây an toàn làm cho các vụ tai nạn ít tốn kém hơn đối với người lái xe vì nó làm giảm khả năng bị thương hoặc tử vong. Như vậy, dây an toàn làm giảm ích lợi của việc lái xe chậm và cẩn thận. Mọi người phản ứng đối với việc thắt dây an toàn cũng tương tự như với việc nâng cấp đường sá - họ sẽ lái xe nhanh và ít thận trọng hơn. Do đó, kết quả cuối cùng của luật này là số vụ tai nạn xảy ra nhiều hơn. Sự giảm sút độ an toàn khi lái xe có tác động bất lợi rõ ràng đối với khách bộ hành. Họ cảm thấy dễ bị tai nạn hơn. Nhìn qua, cuộc bàn luận này về mối quan hệ giữa các kích thích và dây an toàn tưởng như chỉ là sự suy đoán vu vơ. Song trong một nghiên cứu vào năm 1975, nhà kinh tế Sam Pelzman đã chỉ ra rằng trên thực tế đạo luật về an toàn ô tô đã làm nảy sinh nhiều hậu quả thuộc loại này. Theo những bằng chứng mà Pelzman đưa ra, đạo luật này vừa làm giảm số trường hợp tử vong trong mỗi vụ tai nạn, vừa lại làm tăng số vụ tai nạn. Kết quả cuối cùng là số lái xe thiệt mạng thay đổi không nhiều, nhưng số khách bộ hành thiệt mạng tăng lên.

Phân tích của Pelzman về đạo luật an toàn ô tô là ví dụ minh họa cho một nguyên lý chung là con người phản ứng lại các kích thích. Nhiều kích thích mà các nhà kinh tế học nghiên cứu dễ hiểu hơn so với trong trường hợp đạo luật về an toàn ô tô. Không có gì đáng ngạc nhiên khi ở Châu Âu (nơi thuế xăng cao), người ta sử dụng loại ô tô cá nhân nhỏ hơn so với ở Mỹ (nơi có thuế xăng thấp). Song như ví dụ về an toàn ô tô cho thấy, các chính sách có thể gây ra những hậu quả không lường trước được. Khi phân tích bất kỳ chính sách nào, không những chúng ta xem xét ảnh hưởng trực tiếp, mà còn phải chú ý tới các tác động gián tiếp do các kích thích tạo ra. Nếu chính sách làm thay đổi cách kích thích, nó sẽ làm cho con người thay đổi hành vi của họ.


Kiểm tra nhanh: Hãy liệt kê và giải thích ngắn gọn bốn nguyên lý liên quan đến ra quyết

định cá nhân.

CON NGƯỜI TƯƠNG TÁC VỚI NHAU NHƯ THẾ NÀO?

Bốn nguyên lý đầu tiên bàn về cách thức ra quyết định cá nhân. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày, nhiều quyết định của chúng ta không chỉ ảnh hưởng đến bản thân chúng ta, mà còn tác động đến những người xung quanh. Ba nguyên lý tiếp theo liên quan đến cách thức mà con người tương tác với nhau.

Nguyên lý 5: Thương mại có thể làm cho mọi người đều được lợi

Có lẽ bạn đã nghe trên bản tin thời sự rằng người Nhật là những đối thủ cạnh tranh của chúng ta trong nền kinh tế thế giới. Xét trên một vài khía cạnh, điều này là đúng vì các công ty Nhật và Mỹ sản xuất nhiều mặt hàng giống nhau. Hãng Ford và hãng Toyota cạnh tranh để thu hút cùng một nhóm khách hàng trên thị trường ô tô. Compaq cũng cạnh tranh với Toshiba trên thị trường máy tính cá nhân để thu hút cùng một nhóm khách hàng.

Vì vậy, người ta rất dễ mắc sai lầm khi nghĩ về sự cạnh tranh giữa các nước. Thương mại giữa Nhật và Mỹ không giống như một cuộc thi đấu thể thao, trong đó luôn có kẻ thắng, người thua. Sự thật thì điều ngược lại mới đúng: Thương mại giữa hai nước có thể làm cả hai bên cùng được lợi.

Để lý giải tại sao, hãy xem xét thương mại tác động như thế nào tới gia đình bạn. Khi một thành viên trong gia đình bạn đi tìm việc, anh ta phải cạnh tranh với những thành viên của các gia đình khác cũng đang tìm việc. Các gia đình cạnh tranh nhau khi đi mua hàng vì gia đình nào cũng muốn mua hàng chất lượng tốt nhất với giá thấp nhất. Vì vậy theo một nghĩa nào đó, mỗi gia đình đều đang cạnh tranh với tất cả các gia đình khác.

Cho dù có sự cạnh tranh này, gia đình bạn cũng không thể có lợi hơn nếu tự cô lập với tất cả các gia đình khác. Nếu làm như vậy, gia đình bạn sẽ phải tự trồng trọt, chăn nuôi, may quần áo và xây dựng nhà ở cho mình. Rõ ràng gia đình bạn thu lợi nhiều từ khả năng tham gia trao đổi với các gia đình khác. Thương mại cho phép mỗi người chuyên môn hóa vào một lĩnh vực mà mình làm tốt nhất, cho dù đó là trồng trọt, may mặc hay xây nhà. Thông qua hoạt động thương mại với những người khác, con người có thể mua được những hàng hóa và dịch vụ đa dạng hơn với chi phí thấp hơn.

Cũng như các gia đình, các nước được lợi từ khả năng trao đổi với các nước khác. Thương mại cho phép các nước chuyên môn hóa vào lĩnh vực mà họ làm tốt nhất và thưởng thức nhiều hàng hóa và dịch vụ phong phú hơn. Người Nhật, cũng như người Pháp, người Ai Cập và người Brazil là những bạn hàng của chúng ta trong nền kinh tế thế giới, nhưng cũng là đối thủ cạnh tranh của chúng ta.

Nguyên lý 6: Thị trường thường là một phương thức tốt để tổ chức hoạt động kinh tế

Sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu có lẽ là thay đổi quan trọng nhất trên thế giới trong nửa thế kỷ qua. Các nước cộng sản hoạt động dựa trên tiền đề là các nhà làm kế hoạch trong chính phủ trung ương có thể định hướng hoạt động kinh tế một cách tốt nhất. Các nhà làm kế hoạch đó quyết định xã hội sản xuất hàng hóa và dịch vụ nào, sản xuất bao nhiêu, ai là người sản xuất và ai được phép tiêu dùng chúng. Lý thuyết hậu thuẫn cho quá


trình kế hoạch hóa tập trung là chỉ có chính phủ mới tổ chức được các hoạt động kinh tế theo phương thức cho phép nâng cao phúc lợi kinh tế của đất nước với tư cách một tổng thể.

Ngày nay, hầu hết các nước từng có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đều đã từ bỏ hệ thống này và đang nỗ lực phát triển nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, quyết định của các nhà làm kế hoạch trung ương được thay thế bằng quyết định của hàng triệu doanh nghiệp và hộ gia đình. Các doanh nghiệp quyết định thuê ai và sản xuất cái gì. Các hộ gia đình quyết định làm việc cho doanh nghiệp nào và mua cái gì bằng thu nhập của mình. Các doanh nghiệp và hộ gia đình tương tác với nhau trên thị trường, nơi mà giá cả và ích lợi riêng định hướng cho các quyết định của họ.

Mới nghe qua thì thành công của các nền kinh tế thị trường thật khó hiểu. Xét cho cùng thì trong nền kinh tế thị trường, không ai phụng sự cho phúc lợi của toàn xã hội. Thị trường tự do bao gồm nhiều người mua và người bán vô số hàng hóa và dịch vụ khác nhau, và tất cả mọi người quan tâm trước hết đến phúc lợi riêng của họ. Song cho dù ra quyết định có tính chất phân tán và những người quyết định chỉ quan tâm tới ích lợi riêng của mình, nền kinh tế thị trường đã chứng tỏ thành công lạ thường trong việc tổ chức hoạt động kinh tế theo hướng thúc đẩy phúc lợi kinh tế chung.

Trong cuốn Bàn về về bản chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc viết năm 1776, nhà kinh tế Adam Smith đã nêu ra nhận định nổi tiếng hơn bất cứ một nhận định nào trong kinh tế học: khi tác động qua lại với nhau trên thị trường, các hộ gia đình và doanh nghiệp hành động như thể họ được dẫn dắt bởi một "bàn tay vô hình", đưa họ tới những kết cục thị trường đáng mong muốn. Một trong các mục tiêu của chúng ta trong cuốn sách này là tìm hiểu xem bàn tay vô hình thực hiện phép màu của nó ra sao. Khi nghiên cứu kinh tế học, bạn sẽ thấy giá cả là công cụ mà nhờ đó bàn tay vô hình điều khiển các hoạt động kinh tế. Giá cả phản ánh cả giá trị của một hàng hóa đối với xã hội và chi phí mà xã hội bỏ ra để sản xuất ra hàng hóa đó. Vì hộ gia đình và doanh nghiệp nhìn vào giá cả khi đưa ra quyết định mua và bán cái gì, nên vô tình họ tính đến các ích lợi và chi phí xã hội của các hành động của họ. Kết quả là giá cả hướng dẫn các cá nhân đưa ra quyết định mà trong nhiều trường hợp cho phép tối đa hóa ích lợi xã hội.

Có một hệ quả quan trọng từ kỹ năng của bàn tay vô hình trong việc định hướng hoạt động kinh tế: Khi ngăn không cho giá cả điều chỉnh một cách tự nhiên theo cung và cầu, chính phủ cũng đồng thời cản trở khả năng của bàn tay vô hình trong việc phối hợp hàng triệu hộ gia đình và doanh nghiệp - những đơn vị cấu thành nền kinh tế. Hệ quả này lý giải tại sao thuế tác động bất lợi tới quá trình phân bổ nguồn lực: thuế làm bóp méo giá cả và do vậy làm bóp méo quyết định của doanh nghiệp và hộ gia đình. Nó cũng lý giải tác hại thậm chí còn lớn hơn do các chính sách kiểm soát giá trực tiếp gây ra, chẳng hạn như chính sách kiểm soát tiền thuê nhà. Và nó cũng lý giải sự thất bại của mô hình kế hoạch hóa tập trung. Trong mô hình này, giá cả không do thị trường xác định, mà do các nhà làm kế hoạch ở trung ương đặt ra. Các nhà làm kế hoạch này thiếu thông tin được phản ánh trong giá cả khi giá cả tự do đáp lại các lực lượng thị trường. Các nhà làm kế hoạch ở trung ương thất bại vì họ tìm cách vận hành nền kinh tế với một bàn tay bị trói sau lưng - đó là bàn tay vô hình của thị trường.

PHẦN ĐỌC THÊM ADAM SMITH VÀ BÀN TAY VÔ HÌNH

Có lẽ chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi tác phẩm vĩ đại Bàn về bản chất và nguồn gốc của cải của các dân tộc của Adam Smith ra đời vào năm 1776, đúng vào năm các nhà cách mạng