Triết lý sống

Phàm làm việc gì trước phải suy xét đến hậu quả của nó
Hành động của người quân tử là giữ tĩnh lặng để tu thân, cần kiệm để dung dưỡng đức độ. Không đạm bạc thì không thể có trí tuệ sáng suốt, không yên tĩnh thì không có chí vươn xa. Học thì phải cần yên tĩnh, muốn có tài năng phải học; không học thì không biết rộng, không có chí thì việc học không thành.

Mong muốn lan man thì không thể nảy sinh cái tinh túy, vội tìm cái hiểm hóc thì không nắm được cái thực tình. Thời gian tuổi tác qua nhanh, ý chí cùng ngày tháng trôi đi trở thành khô héo, phần lớn không tiếp cận được với thời đại, rồi buồn tủi nơi lều nát, sao còn khôi phục lại kịp cái chí hướng được nữa !

Sunday, December 26, 2010

THÔNG TIN VÀ ĐỘNG CƠ: Nền Kinh Tế của những củ cà rốt và cây gậy (phần 4)

Có nhiều yếu tố tác ảnh hưởng đến kết quả. Trong nhiều trường hợp, tỷ suất biên của thuế đạt cao nhất trong nhóm có thu nhập trung bình, và giảm đối với nhóm có thu nhập cao và thấp. Điều này đối lập với hệ thống thuế thực tế. Đó là một đặc điểm mà lúc đó dường như rất thô, mặc dù những tính toán sau đó và kết quả cho thấy rằng tỷ suất thuế biên có thể rất cao đối với nhóm có thu nhập thấp nhất. (Với một sự đánh giá phúc lợi theo xu hướng chủ nghĩa bình quân, tỷ suất thuế biên dường như giảm khi tính theo nhóm thu nhập tăng lên.) Một kết quả khác, không có tác động về mặt số lượng, nhưng vẫn có tầm quan trọng, đó là trong sự tối ưu, chỉ số thất nghiệp mang số dương. Những người nào lựa chọn không có thu nhập được hưởng một khoản trợ cấp, bởi vì chúng ta không muốn họ chết đói, và những người lao động có năng suất thấp thấy rằng khoản lương không đạt đến mức của lao động tiêu chuẩn.
Người ta có thể đi sâu vào vấn đề và những kết quả bằng cách nghĩ về một trường hợp hi hữu trong đó sự không bằng nhau về thu nhập là rất thấp. Trường hợp hạn hữu này là khi mọi người có mức thu nhập giống nhau. Do đó không có vấn đề khuyến khích cạnh tranh. Sẽ là tối ưu khi chúng ta tăng ngân quỹ cần thiết cho những chi tiêu công cộng bởi những khoản thuế. Tỷ suất thuế biên bằng không. Trường hợp thu nhập có sự không bằng nhau ở mức độ nhỏ, với mức lương giao động từ 0 đến một mức cao hơn nào đó, với sự thay đổi rất nhỏ. Đối với những người có mức lương trung bình (đa số trong dân số) những khoản thuế tương đương với những khoản thuế trong trường hợp thu nhập bằng nhau, đặc biệt là mức thuế suất biên thấp, và mức thuế suất trung bình đủ lớn để chi trả cho chi tiêu công cộng. Nhưng điều đó không thể áp dụng cho những người có mức thu nhập thấp nhất, bởi vì họ không thể trả cho tổng khoản thuế đó- điều đó có nghĩa là tiêu dùng âm. Do đó, đường tiêu dùng/thu nhập phải là một đường nằm dưới cùng, và luôn luôn nằm dưới đường bàng quang của người có thu nhập trung bình. Một người không thể thấy được từ lập luận này một cách rõ ràngvề độ dốc của đường của đường tiêu dùng/thu nhập sẽ nằm dưới cùng như thế nào, nhưng chắc chắn rằng nó thấp hơn rất nhiều đường thu nhập trung bình, điều đó cũng có nghĩa là thuế suất biên sẽ cao hơn khi tại điểm dưới cùng hơn là điểm ở giữa.

Nguồn: M, Tuomala, Tạp chí Kinh tế Cộng đồng (1984)
Hình 2: Những đường thuế thu nhập tối ưu

Nguồn: M. Toumala, Tạp chí Kinh tế Cộng đồng (1984)
Hình 3: Tỷ suất thuế biên.
Khi phân phối thu nhập càng không bằng nhau, đường tiêu dùng/thu nhập tối ưu thay đổi hình dạng của nó càng phức tạp. Một lý do khả dĩ khác để giải thích việc tỷ suất thuế biên cao đối với nhóm có thu nhập thấp. Nếu trong thực tế mọi người muốn làm một số công việc, điều không quá quan trọng là việc cung cấp những công việc cần nhiều lao động cho nhóm có mức lương thấp. Điều đó có thể làm cho thuế suất đạt hoặc gần đến 100%, và sự tối ưu xảy ra ở mức dưới cùng của thu nhập. Trong những nhóm cao hơn, theo nghiên cứu gần đây của Peter Diamond, chưa được xuất bản, chỉ ra rằng đường tiêu dùng/thu nhập có dạng ngược với chữ U thường xảy ra với thuế suất biên tăng lên trong phương thức phân phối này, nhưng cuối cùng lại giảm xuống.
Có một kết quả chính xác hơn đáng quan tâm hơn cho mô hình này và những điều tổng quát của nó. Những nghiên cứu nổi tiếng nhất của Phelps (1973) và Sadka (1976) rằng tỷ suất thuế biên tối ưu đối với người có mức lương cao nhất (nếu có) là bằng không. Trong nghiên cứu của riêng tôi, mọi sự phân phối tiền lương không bị giới hạn bởi điều trên. Kết quả của Phelps-Sadka thực sự nói rằng nhóm có thu nhập cao nhất cũng có thể xảy ra với mức thuế suất biên bằng không. Có một sự không chắc chắn đáng nói về nhóm có thu nhập cao trong thực tiễn: không thể đạt đến một mức mà ở đó thuế suất biên bằng không.
Có một kết quả chung quan trọng trong nghiên cứu của Atkinson và Stiglitz (1976), họ đã tìm ra những điều kiện chung cho một mô hình với nhiều hàng hoá tiêu dùng để có đặc tính rằng sự tối ưu có thể đạt được bằng cách chỉ sử dụng hệ thống thuế đối với thu nhập từ lao động. Điều này xảy ra khi có sự chia tách của tiêu dùng hàng hoá trong những sự ưu tiên giữa những đặc tính tiêu dùng và lao động. Nếu những điều kiện này sử dụng cho những ưu tiên tạm thời, thì một người sẽ không có thuế thu nhập từ tài sản: đó là trường hợp, ở đó sự chi tiêu thuế giống nhau là tối ưu. Có một mối liên hệ gần gũi với kết qủa của Christiansen (1981) là khi có hàng hoá công cộng cùng nhóm với hàng hoá tiêu dùng cá nhân, tách biệt khỏi lao động và tiền lương, quy tắc hàng hoá công cộng của Samuelson, tổng các tỷ suất biên của sự thay thế sẽ bằng với tỷ suất biên chuyển đổi. Những kết quả nhày đòi hỏi khả năng của hệ thống thuế phi tuyến tuỳ ý của thu nhập từ lao động, đó là sự hợp lý hoàn hảo. Thật thú vị là mô hình chung của hệ thống khuyến khích cạnh tranh lại đưa ra những kết quả rõ ràng hơn những kết quả đạt được khi xem xét hệ thống thuế tuyến tính.
Cuối cùng, nên lưu ý rằng mô hình này có tính tổng quát hơn vẻ bề ngoài của nó, với thu nhập trong mô hình này là thu nhập hữu hình, và những khoản tiêu dùng là quan sát được. Sự trốn thuế cũng được xem xét trong cấu trúc này, với biến tiêu rõ ràng đối với thu nhập sau thuế, và thu nhập đúng với những gì được báo cáo với cơ quan thuế. Những gì bỏ qua sau đó là những sự đánh giá và kiểm tra khác. Nhưng điều đó cũng có thể được sử dụng thậm chí không có trốn thuế cố ý. ở một số nước, khả năng có sự trốn thuế thay đổi theo mức độ đánh thuế được xem là có tầm quan trọng hơn là những biến đổi trong cung cấp việc làm.

THÔNG TIN VÀ ĐỘNG CƠ: Nền Kinh Tế của những củ cà rốt và cây gậy (phần 3)

Mô hình cụ thể này là loại mô hình rất bình thường, trong đó những người tiêu dùng cá nhân có thể lựa chọn bao nhiêu lao động cần được cung ứng ra. Hoàn cảnh của mỗi người tiêu dùng được mô tả bởi hai biến số, cung ứng lao động và tiêu dùng. Mỗi loại người tiêu dùng được xác định bằng một tham số, năng suất, hoặc, tương tự, mức lương của người đó. Có một sự phân phối đã cho trước về các mức lương trong nền kinh tế, và nhà nước nhận thức được. Những điều này là thực tế, năng suất thực tế của các cá nhân khác nhau. Nhà nước có thể quan sát toàn bộ sản phẩm của mỗi cá nhân, đó là sản phẩm của mức lương và tổng công việc, nhưng chúng ta lại không thể quan sát mỗi sản phẩm này một cách riêng rẽ. Giả định về khả năng quan sát đó khá là cực đoan, và tôi sẽ quay trở lại vấn đề này. Nhưng có một số hạn chế mà chính phủ có thể quan sát được, và sự giả định cụ thể này tương ứng với điều mà hệ thống thuế hầu như luôn có thể thực hiện được: chúng chỉ liên quan đến tổng thu nhập, không liên quan đến mức lương.
Chính phủ cũng được giả định có một mục đích, một biện pháp phúc lợi mà chính phủ muốn tối đa hoá, tổng thoả dụng cá nhân, phù hợp với những ưu tiên cá nhân đối với tiêu dùng và công việc. Đó không phải là vấn đề bước đầu trong quá trình phân tích, việc tìm ra cách thức để mô tả sự phân bổ thực tế khả dĩ đối với chính phủ, mà là việc nêu ra sự phân bổ thực sự tiêu dùng và công việc trong dân chúng một cách khuyến khích cạnh tranh. Đây là những sự phân bổ có thể phù hợp với hệ thống thuế tính theo thu nhập từ lao động, nhưng tôi lại muốn mô tả một sự phân bổ có thể mà không cần dẫn chiếu đến các khoản thuế, và đó là bước quan trọng để đạt được một mô hình có thể tính toán được của các khoản thuế chung.
Tôi đã nói rằng câu trả lời thật đơn giản. Nó được chỉ ra trong Hình 1. Đối với mỗi người tiêu dùng yêu cầu sản phẩm của tiền lương và lao động, thu nhập. Sự khuyến khích cạnh tranh yêu cầu rằng mỗi người tiêu dùng sẽ chọn từ một cặp biến thu nhập tiêu dùng sẵn có. Một đường, gọi là đường BB trong đồ thị, mô tả sự phân bổ đó, chỉ ra tiêu dùng tại các mức thu nhập khác nhau. Mỗi người tiêu dùng chọn từ đường phân bổ đó: mỗi người có một đường bàng quang tiếp xúc (tiếp tuyến) với đường phân bổ, như là II và JJ trong Hình 1. Để cho chính xác hơn, điều mà tôi gọi là một đường phân bổ có thể là không đúng: nó có thể có đoạn gấp khúc. Dẫu vậy, điều đó được rút ra từ một lập luận đơn giản rằng đường phân bổ phải hoàn toàn nằm dưới tập hợp những đường bàng quang cá nhân, tương ứng với mỗi người tiêu dùng. Do đó, sự thoả dụng tăng lên khi tiền lương, tại mức cân bằng với đạo hàm của thoả dụng tương ứng với mức lương đó, với mức thu nhập và tiêu dùng không đổi. Và thu nhập cũng là một hàm tăng dần đối với mức lương của người tiêu dùng sự kết hợp hai yếu tố này hình thành nên sự phân bổ thu nhập/tiêu dùng khuyến khích cạnh tranh.
Một giả định quan trọng cần được đưa ra để chứng minh cho kết luận trên. Giả sử rằng những người có mức lương cao hơn luôn thấy dễ dàng hơn để tạo thêm thu nhập so với những người có thu nhập thấp. Điều này hạn chế hơn nhiều người ta có thể tưởng tượng, và nó không đơn giản là việc tăng lương, nhưng đó lại có vẻ như là một giả định hoàn toàn hợp lý và dễ chấp nhận. Trong hình 1, sự giả định có nghĩa rằng các đường bàng quang của mỗi người khác nhau, mỗi đường chỉ cắt nhau một lần. Điều kiện này được biết đến như là thuộc tính cắt nhau một lần (hoặc đôi khi còn gọi là điều kiện Spence-Mirrlees [4]). Với giả định đó, người ta có thể xác định đầy đủ sự phân bổ khuyến khích cạnh tranh.
Hơn nữa, và rất quan trọng, vấn đề tối ưu thuế thu nhập ban đầu bây giờ có thể chuyển sang một cái gì đó giống như là vấn đề lý thuyết kiểm soát tiêu chuẩn, với sự thoả dụng là một biến trạng thái, và thu nhập là biến kiểm soát. Điều kiện trên đã mô tả hoàn toàn tương ứng với quan điểm cho rằng mức độ mà ở đó sự thoả dụng tăng lên trong dân số, đối với mức lương, bằng với đạo hàm của thoả dụng cá nhân tính theo mức lương đã nói, đó là một hàm đã biết đến của tiêu dùng cá nhân, thu nhập và mức lương. Nói đúng hơn, một người có thể tổng quát tất cả những điều này, với điều kiện thoả dụng không luôn luôn là một hàm liên tục của tiền lương. Do đó, sự chứng minh toán học đầy đủ của tất cả những vấn đề này rất phức tạp. Kết quả tính toán do đó cũng không phải dễ dàng, bởi vì trong thực tế chúng ta phải kiểm tra liệu rằng người tiêu dùng ở từng lớp phân loại cùng có chung mức thu nhập hay không; nhưng điều đó có thể được thực hiện.[5]
Một đặc điểm thú vị trong sự phân tích này, và nó xảy ra một cách hoàn toàn tự nhiên, đó là hiệu lực của nó. Nó làm cho vấn đề quá rõ ràng. Chúng tôi muốn nói rằng việc sử dụng một hệ thống thuế phi tuyến giải quyết được vấn đề từng làm các nhà lý thuyết về thuế. Trong phân tích thuế hàng hoá tối ưu mà tôi và Peter Diamond đã thực hiện, chúng tôi đã tìm được điều kiện bậc nhất cho hệ thống thuế tối ưu, và đã tìm ra nhiều cách giải thích và những vấn đề có liên quan; nhưng những điều kiện này là điều cần cho sự tối ưu, chứ không phải là điều kiện đủ. Trong bất kỳ một mô hình cụ thể nào đó, việc tính toán thuế tối ưu đòi hỏi
Hình 1. Sự khuyến khích cạnh tranh

Nhiều hơn việc giải quyết vấn đề điều kiện đầu tiên, trừ phi chỉ có một giải pháp duy nhất. Vấn đề đó không tác động đến kinh tế học phúc lợi đơn giản với những sự chuyển đổi gộp hoàn hảo. Trong vấn đề thuế thu nhập, những điều kiện khá đơn giản, dễ dàng kiểm tra đối với mỗi mô hình cụ thể mà tôi đã sử dụng, hàm ý rằng giải pháp về những đẳng thức đã mang lại một sự tối ưu: những điều kiện đủ cũng như điều kiện cần. Khi việc tính toán được thực hiện, người ta biết rằng họ đã có câu trả lời đúng, chứ không phải là câu trả lời có thể đúng.
Giải pháp cho mô hình trong bất cứ trường hợp cụ thể nào cũng cho thấy mức độ tiêu dùng có liên quan đến thu nhập như thế nào. Từ đó một người có thể nói về thuế suất thuế thu nhập. Hãy nhớ rằng trong mô hình đó, sự phân bổ có thể đạt được với chỉ hệ thống thuế đó. Thuế thu nhập trong mô hình đó tương ứng với tổng thuế thu nhập thực tế từ lao động và thuế tiêu dùng, như là thuế giá trị gia tăng.
Việc tính toán mô hình được thực hiện cho từng trường hợp cụ thể. Có ba giả định chủ yếu: việc phân phối tiền lương, bản chất của những ưu đãi cá nhân giữa tiêu dùng và lao động, và mức độ được cho là cần thiết để chuyển từ giàu có sang nghèo khổ, ví dụ như cách thức mà hàm phúc lợi kết hợp với những ưu đãi cá nhân. Trong một nghiên cứu năm 1971, giả định hợp lý và đơn giản nhất được đưa ra là về vấn đề ưu đãi tiêu dùng/công việc, đó là yếu tố co giãn thay thế giữa tiêu dùng và nghỉ ngơi. Ít nhất đối với những lao động nam giới, công việc lúc đó cho thấy rằng độ co giãn tương đối cao. Công việc sau này [6] chỉ ra rằng tỷ suất biên của thuế đã lơn hơn rất nhiều so với những tính toán đầu tiên. Việc phân phối thu nhập từ lao động không phải là dễ dàng quan sát. Trong trường hợp nào khía cạnh tạm thời rất quan trọng trong thực tế và hoàn toàn không được tính đến trong mô hình. Cả sự phân phối thông thường và phân phối Pareto đã được thực hiện, và chúng mang lại các kết quả hoàn toàn khác nhau, đặc biệt là đối với nhóm có thu nhập cao. Những sự xác định về phúc lợi khác nhau có tác động nhiều đến đối với nhóm có thu nhập thấp hơn là nhóm có thu nhập cao, và có những cơ sở lý thuyết để khẳng định điều đó. Một mức độ yêu cầu của chi tiêu công cộng (về quốc phòng, cảnh sát, v.v.. Không phải chi tiêu phúc lợi, cũng là một phần của hệ thống thuế tối ưu) cũng được thừa nhận.
Các kết quả khác nhau đạt được được minh hoạ trong Hình 2 và 3, dựa trên những tính toán của Matti Tuomala. Hai tham số, β và ε, mô tả mức độ của chủ nghĩa bình quân được giả định, và mức độ co giãn thay thế giữa tiêu dùng và cung cấp lao động. ε = 1 tương ứng với những trường hợp được tính toán trong nghiên cứu năm 1971, ε = 0.5 là một giá trị khả dĩ hơn.
(Còn tiếp)

THÔNG TIN VÀ ĐỘNG CƠ: Nền Kinh Tế của những củ cà rốt và cây gậy (phần 2)

HỆ THỐNG THUẾ
Chính xác vấn đề là gì Nói chung, và trong thực tế, sự phân phối lại của các tài sản được yêu cầu bởi định lý phúc lợi thứ nhất, những thông tin cần thiết chính phủ không thể có được. Chính quyền lý tưởng (tưởng tượng) này phải biết được những người dân giàu nào mà họ có, và điều gì họ có thể làm, trước khi họ (chính phủ) có thể biết được phải cho đi bao nhiêu và lấy đi bao nhiêu. Nếu mọi người biết được chính phủ cần các thông tin đó, họ có thể che dấu đi bằng cách này hay cách khác, nếu điều đó có lợi cho họ. Những yêu cầu thông tin cần thiết trong định lý phúc lợi thứ hai không thể được hoàn thiện. Việc chuyển từ hoặc chuyển đến một người phụ thuộc vào những đặc điểm của người đó, không phải cư xử của anh ta, được biết đến như là sự chuyển đổi trọn gói. Sự chuyển đổi trọn gói mong muốn, trong thực tế, là điều không thể, bởi vì chúng đòi hỏi những thông tin không có sẵn. Nỗ lực để thực hiện chúng có thể sẽ phá huỷ các giá trị của các thông tin mà họ dựa vào.
Theo hướng suy nghĩ đó, giữa những năm sáu mươi, Piter Diamond và tôi đã bị thuyết phục rằng một người có thể suy nghĩ về phúc lợi kinh tế và chính sách kinh tế trong bối cảnh của nền tài chính công. Trước hết chúng ta nghiên cứu mô hình kinh tế tổng quát, trong đó chính phủ không thể thực hiện được sự chuyển đổi trọn gói [3]. Rõ ràng rằng điều đó đã đi quá xa, và chúng tôi đã tiếp tục cho phép rằng chính phủ có thể sử dụng các loại thuế trọn gói thống nhất, hoặc hợp lý hơn, những khoản trợ cấp. Mặt khác chính phủ phải sử dụng các khoản thuế, thuế từ quan điểm của lý thuyết phúc lợi thuần tuý được xem như một sự méo mó. Đây là mô hình trong đó tất cả những người tiêu dùng và người sản xuất là những người chấp nhận giá, nhưng họ không nhất thiết phải đối mặt với những mức giá giống nhau, bởi vì tỷ suất thuế không thể làm cho hai bên của một giao dịch phải tiếp diện với các mức giá khác nhau. Đó là một mô hình truyền thống, có hành vicạnh tranh của các tác nhân tư nhân; nhưng đó là một nền kinh tế bị bóp méo, và sự bóp méo đó có thể là tối ưu. Và đó là điều mà chúng tôi muốn nghiên cứu.
Trước đó đã có một tác phẩm nói về sự méo mó của thuế khoá. Lý thuyết này được khởi xướng bởi Frank Ramsey (1927), theo đề nghị của A.C Pigou. Ông đã xem xét một nền kinh tế gồm những người tiêu dùng đồng nhất và giả định rằng thu nhập chính phủ tăng lên hoàn toàn thông qua các khoản thuế đối với hàng hoá. Sau đó, M. Boiteux (1956), ở Pháp, đã phát triển một cách độc lập lý thuyết đồng đẳng của việc đặt giá bởi sự thoả dụng công cộng với lợi nhuận bằng không là nhân tố hạn chế, trong một nền kinh tế mà sự chuyển đổi trọn gói hoàn hảo xảy được cho là xảy ra một cách nghịch lý. Và Serge-Christophe Kolm (1971) đã phát triển một lý thuyết tổng quát có tính hệ thống.
Điều lý thú trong câu chuyện mà tôi kể ra ở đây loại lý thuyết mà chúng tôi đã phát triển, chứ không phải là nội dung và những hàm ý của nó. Đó là lý thuyết về một nhà nước mà những hành động của nó là một chức năng của điều mà nó có thể quan sát được. Không một sự quan sát nào về bản chất của những người tiêu dùng cá nhân được giả định là có sẵn, mà chỉ những quan sát về ứng xử của họ. Ví dụ chính của điều đó là một loại thuế hàng hoá, nó tạo ra một tỷ lệ thu nhập trong số hàng hoá mà người tiêu dùng chọn mua. Việc lựa chọn chính sách có tính đến phản ứng của người tiêu dùng đối với sự thay đổi của thuế, đặc biệt là sự thay đổi số lượng mua bán. Một sự trợ cấp trọn gói thống nhất không yêu cầu bất kỳ một thông tin nào, và do đó được cho phép. Chúng tôi nói rằng, những công cụ chính sách này là sự tương hợp khích lệ: nhà nước có tính đến đầy đủ các phản ứng vì lợi ích cá nhân của mọi người đến hệ thống thuế.
Có một khía cạnh, ở đó thông tin về các đặc điểm của người tiêu dùng là cần thiết, sự phân phối của những đặc tính này trong phạm vi dân số. Nhà nước bằng cách nào đó biết được sự phân phối này. Về nguyên tắc nhà nước có thể biết được điều này bằng cách đi hỏi từng người, hoặc trắc nghiệm họ theo các cách đa dạng khác nhau. Bởi vì thông tin được sử dụng dưới dạng cô đọng (tổng hợp), một cá nhân sẽ chẳng có gì để mất (hoặc có lợi) khi nói với chính phủ sự thật. Chỉ khi trách nhiệm thuế cá nhân bị tác động bởi sự tiết lộ này thì sự khuyến khích cạnh tranh bị vi phạm. Chúng tôi đã giả sử rằng, nhà nước sẽ thu nhận và sử dụng mô hình kinh tế toán về người tiêu dùng, trong đó sự phân phối những nhóm người tiêu dùng-mối quan tâm của họ đến các loại hàng hoá khác nhau, đặc điểm cung cấp lao động của họ có thể được ước đoán từ ứng xử của một người tiêu dùng mẫu. Việc tính toán thuế tối ưu và xu hướng mong muốn của việc thay đổi thuế đã xảy ra theo cách đó. Một người có thể dứt khoát cho phép những sự không chắc chắn này về sự phân phối các đặc tính trong dân số, với các vấn đề cân bằng ngân sách mà nó đặt ra, nhưng chúng ta không nghi ngờ về cái gọi là sự rắc rối nhỏ.
Điều này sau đó là một mô hình với thông tin không đối xứng, ở đó, khi chính sách của nhà nước được xác định, những cá nhân người tiêu dùng biết nhiều hơn về sở thích và khả năng của họ hơn là điều mà chính phủ biết. bởi vì tất cả những tham số chính sách có thể được đề cập đến trong mô hình đó, điều đó rất chung chung. mà điều chung chung thì không được tận dụng một cách đầy đủ.
THUẾ THU NHẬP
Sẽ là thú vị nếu chúng ta đi vào chi tiết hơn, và nghiên cứu một mô hình kinh tế cụ thể hơn có một số đặc điểm nổi bật của một nền kinh tế thực sự. Một mô hình như thế vẽ nên bức tranh của một nền kinh tế vô tận, trong đó dân chúng tận dụng một loại hàng hoá tiêu dùng duy nhất, và cung ứng lao động. Như đã đề cập ở trên, William Vickrey đã nêu ra vấn đề thuế tối ưu cho mô hình đó, mặc dù ông đã không thể giải quyết vấn đề này. Trong mô hình như thế, sự phân phối lại các khoản thuế có thể được mô tả một cách đơn giản là thuế thu nhập, có ảnh hưởng đến việc quyết định tiêu dùng của mỗi cá nhân như là một hàm của thu nhập cá nhân đó.
Quan điểm về hệ thống thuế thu nhập thì thuế có thể là một hàm cực kỳ phức tạp của thu nhập: thuế không cần phải tương ứng với thu nhập, và trong thực tế thì điều này ít xảy ra. Trong một nền kinh tế thực sự, thu nhập bao gồm nhiều yếu tố. Chúng ta dễ dàng phân biệt được thu nhập từ lao động với thu nhập từ vốn tài sản, ít nhất là về mặt khái niệm. (trong thực tế, đặc biệt là đối với những người tự doanh, sự phân biệt khó có thể thực hiện được; và thu nhập ròng từ vốn, bao gồm cả việc cho thuê nhà, tự bản thân nó cũng khó để xác định.) Sau đây, tôi giả định rằng chúng ta chỉ xem xét về thu nhập từ lao động. Thu nhập từ lao động có thể bị đánh thuế một cách phi tuyến. Do đó một số loại hàng hoá khác, như là gọi điện thoại, điện và những cái khác. Một hệ thống thuế phi tuyến đầy đủ, như hệ thống thuế hữu tuyến, là sự khuyến khích cạnh tranh: việc tính thuế vẫn dựa trên hành vi có thể quan sát được một cách công khai của người tiêu dùng. Giả định là sự phi tuyến sẽ là một lợi thế, bởi vì nó tổng quát hơn hế thống thuế hữu tuyến.
Trên thực tế, không ai có thể nói trước được rằng phi tuyến có lợi thế như thế nào. Hầu hết các nước có các mức thuế suất biên khác nhau đối với thu nhập từ lao động, và trong hầu hết các trường hợp luật thuế thu nhập xác định rõ thuế suất biên tăng lên theo thu nhập. Cũng có những yếu tố khác trong bảo hiểm xã hội và những thoả thuận thuế của nhiều nước có dạnh giống như thuế thu nhập, ví dụ như bảo hiểm thất nghiệp, hoặc thoả thuận hỗ trợ người có thu nhập thấp. Trong nhiều trường hợp, những điều này có tác động tạo nên một mức thuế suất biên khá cao đối với những khoản thu nhập thấp: những lợi ích bị giảm đi khi thu nhập tăng lên, và đôi khi là một đổi một. Do đó, hệ thống thuế điển hình thực sự có mức thuế suất biên cao đối với mức thu nhập thấp và đối với thu nhập cao, tỷ suất thuế biên thấp đối với mức thu nhập trung bình. Việc nghĩ đến hầu hết các loại thuế là việc tạm thời, thay vì nghĩ về thuế đối với thu nhập từ tài sản, khi tính thuế đối với thu nhập từ lao động: có thể đúng nếu hàng tiêu dùng khác nhau bị đánh thuế ở mức tỷ suất giống nhau. Tại bất cứ một tỷ suất thuế nào, một người cũng có thể ước lượng hệ thống thuế thực tế gần đúng.
Bước tiếp theo khi nghĩ về một hệ thống thuế tối ưu, thật nghịch lý, là suy nghĩ một cách rõ ràng về thuế suất, và thay vì suy nghĩ về những phân bổ của các hàng hoá thực sự và lao động. Để cho thuận lợi hãy suy nghĩ về sự tối ưu như là trong nền kinh tế học phúc lợi, mà từ đó tất cả những công việc này đã bắt đầu, nhưng giờ đây đã có một hạn chế mới, sự khuyến khích cạnh tranh, bên cạnh khó khăn sự phân bổ có thể là khả thi. Ý nghĩ về sự khuyến khích cạnh tranh chuyển đổi bởi chính phủ đã bị ràng buộc bởi suy nghĩ về thuế suất. Nhưng điều đó thực sự còn hơn một ý nghĩ cơ bản. Vấn đề đặt ra là: sự phân bổ nào là khả thi nếu chính sách là khuyến khích cạnh trang Tốt nhất nên suy nghĩ về điều này trong một mô hình cụ thể, nhưng trong thực tế câu trả lời hoá ra rất đơn giản khi ở trong một mô hình tổng quát.
(Còn tiếp)

THÔNG TIN VÀ ĐỘNG CƠ: Nền Kinh Tế của những củ cà rốt và cây gậy (phần 1)

THÔNG TIN VÀ ĐỘNG CƠ: Nền Kinh Tế của những củ cà rốt và cây gậy (Information and Incentives: Economics of Carrots and Sticks)
Thuyết trình Nobel, ngày 9 tháng Chín, năm 1996

Tác giả: JAMES A. MIRRLEES



BÀN TAY VÔ HÌNH
Trong một công trình nghiên cứu chủ yếu bàn về vấn đề sự thiếu hiểu biết, chúng ta hãy bắt đầu nói về những đóng góp to lớn của Adam Smith đối với khoa học kinh tế, tầm nhìn của ông về những con người ích kỷ độc lập, những người sống và làm việc với nhau trong một hệ thống kinh tế, bằng cách nào đó họ đã làm điều tốt nhất cho người nhau. trước hết, trong tác phẩm Lý thuyết về Tình cảm Đạo đức (The Theory of Moral Sentiments), ông đã nói:
Người giàu chỉ lựa chọn những thứ quý giá và đáng yêu. Họ tiêu dùng nhiều hơn người nghèo một ít, và mặc dù sự ích kỷ và tham lam của họ họ phân chia với người nghèo những thành quả trong tất cả sự tiến bộ của họ. Họ bị điều chỉnh bởi một bàn tay vô hình để tạo nên một sự đóng góp tương tự về những nhu yếu của cuộc sống, cùng một tỷ lệ với những cư dân sống trên trái đất ở những vùng khác nhau.
Điều này khác với quan điểm sau này của hệ cân bằng kinh tế "tối ưu" theo nghĩa của Pareto. Như đã trích dẫn, quan điểm của Smith trước đó không được hoan nghênh cho lắm. Nó tạo nên một chủ đề chính: sự vận hành của nền kinh tế như là một hệ thống, và lợi ích hoặc những thứ khác, cho tất cả mọi người, có thể sinh ra từ nền kinh tế đó. Sau đó, trong tác phẩm Sự thịnh vượng của Quốc gia (The Wealth of Nations), ông đã đúng đắn khi lập luận rằng tối đa hoá lợi nhuận cá nhân nhằm ám chỉ đến việc tối đa hoá cái mà ta có thể gọi là thu nhập quốc dân, và tiếp tục cho rằng,
... bằng cách điều chỉnh ngành nghề theo cách mà thành quả của nó có thể mang lại giá trị lớn nhất, [mọi cá nhân] chỉ quan tâm đến cái mà anh ta được lợi, và trong trường hợp này, cũng như nhiều trường hợp khác, anh ta bị chi phối bởi bàn tay vô hình để tạo nên một kết cục, điều không nằm trong ý định của anh ta. (IV, chương II).
Điều này chẳng nói lên điều gì về lợi thế của người nghèo, thực tế là chẳng có gì về sự phân phối những lợi ích cả.
Như điều đã từng được giảng dạy cho nhiều thế hệ các nhà kinh tế học, học thuyết bàn tay vô hình bao gồm hai phần. Phần thứ nhất nói rằng hệ cân bằng kinh tế là sự tối ưu Pareto: đó là sự phân bổ các hàng hoá và hoạt động đến con người các tài sản mà không cách phân bổ nào khác có thể tốt hơn. Đó là một hệ cân bằng lý tưởng, mặc dù thiếu tính hiện thực, nhưng lại là điều tốt nhất cho mọi người, hơn hẳn tất cả các cách phân bổ khác. Hệ cân bằng kinh tế có tính cạnh tranh hoàn hảo. Phần thứ hai nói rằng bất kỳ một sự phân bổ tối ưu Pareto có thể trở thành hệ cân bằng kinh tế. Theo đó, sự phân phối ban đầu các tài sản cho mọi người phảiđúng đắn. Nó đòi hỏi rằng trái đất trên thực tế được chia ra thành các phần bằng nhau giữa các cư dân của nó để đạt được sự phân bổ mong muốn. Quan điểm thứ hai này, ít nhất ở mức độ tiêu chuẩn, đưa ra một giả định về bản chất của những khả năng kỹ thuật mà hệ cân bằng cạnh tranh hoàn hảo như vậy có thể diễn ra. Quy mô của nền kinh tế cần phải loại bỏ một cách hoàn toàn, hoặc mức độ sản xuất trong những ngành nghề được xác định theo những cách khác, ví dụ như bằng một kế hoạch nào đó. Đó là một vấn đề thú vị, nhưng cần được loại trừ ở đây.[1]
Những vấn đề này là những nội dung cơ bản của kinh tế học phúc lợi như tôi đã học trong những năm năm mươi. Ian Little (1950) và đặc biệt là Jan Graaff (1951) đã đưa ra những khó khăn quan trọng trong học thuyết này, đặc biệt là khi nó được xem là một cơ sở của thông tin, chính sách và tư tưởng kinh tế. Lý thuyết này xác lập nên điều mà các nhà kinh tế học nghĩ rằng họ có thể nói với thể giới và những người cai quản thế giới. Đó là cơ sở cho quan điểm tự do thương mại, thúc đẩy sự kiểm soát của độc quyền, cho các phương pháp phân tích chi phí-lợi nhuận, và sự điều chỉnh định giá bằng chi phí biên bởi những công ty sở hữu công (công ty nhà nước). Nó cũng được sử dụng để ủng hộ cho việc mở rộng thị trường tự do và sở hữu tư nhân về tài sản, và khuyến nghị sử dụng hệ thống giá thậm chí là trong nền kinh tế kế hoạch.
Những khiếm khuyết của lý thuyết đó dường như nguy hiểm. Rất nhiều giao dịch trong nền kinh tế diễn ra giữa các cá nhân hoặc công ty, với sự độc quyền đáng kể, ít nhất là từ một phía của thị trường. Đối chiếu với quan điểm thứ hai, điều đó dường như có nguyên nhân từ chi phí tìm kiểm và chi phí chuyển loại và sự không chắc chắn về việc hoàn thành của các hợp đồng trong tương lai (như là ở thị trường tín dụng). Những điều này không có chỗ trong mô hình cạnh tranh của nền kinh tế. Có người có thể cho rằng những phát sinh này từ những giả định là nhỏ, trong phạm vi biên của lỗi mà khoa học kinh tế có thể đạt đến được; mặc dù bản thân tôi không nghĩ chúng như vậy.
Khiếm khuyết chính khác là nhu cầu có một sự phân phối cụ thể của tài sản tới mọi người trước khi có ai đó cho rằng hệ cân bằng đạt được là tốt. Yêu cầu đó, khi được hiểu một cách đúng mực, hoàn toàn không thể hoàn thành được.
Đâu là bản chất của khó khăn này Tôi cho rằng, điều đó đã trở nên rõ ràng trong những năm năm mươi, ví dụ như trong những tác phẩm của William Vickrey[2]. Nếu chúng ta có được một hệ cân bằng hoàn chỉnh, chúng ta sẽ tưởng tượng một chính phủ tốt làm được những điều cần thiết, cụ thể là tạo ra một sự phân phối tài sản đến mọi người như sự phân bổ mong muốn trong hệ cân bằng. Điều đó có thể thực hiện được. Trong một mô hình cực kỳ đơn giản, mô hình mà rất nhiều các nhà kinh tế học có thể tưởng tượng được, mọi người đều giống nhau, và mỗi người đều có được sự thoả dụng từ một hành vi tiêu dùng hàng hoá, theo một số lượng cố định đã có sẵn. Điều đó thật dễ dàng cho chính phủ thực hiện công việc phân phối. Giả sử xoá bỏ đi tiêu dùng thoả dụng biên, và sự so sánh các thoả dụng cá nhân, một sự phân phối bình đẳng về tài sản là điều mà chúng ta đòi hỏi. Không một thông tin nào, ngoài việc điều tra dân số, được yêu cầu cho điều đó. Con người có thể có nghi ngờ về biện pháp, thậm chí là về mặt ý nghĩa, của sự thoả dụng; nhưng ít nhất trong một con đường gồ ghề có sẵn, có một trường hợp rõ ràng để nghĩ rằng việc chuyển từ người giàu sang người nghèo là một sự tiến bộ. Ứng dụng điều đó vào một thái cực logic, những người nghèo trên trái đất sẽ được phân phối một cách đồng đều.
Đó không phải là một chính sáchphổ biến, một phần vì những lý do chính đáng. Rõ ràng rằng nếu một chính sách bình đẳng được thực hiện, động cơ ban đầu để làm việc sẽ bị xoá bỏ. "Từ khả năng của một người, đến nhu cầu của anh ta Karl Marx, Phê phán Chương trình của Gotha) không được cho là khả thi, thậm chí là có thể mong muốn. Không một mô hình đơn giản nào cho phép điều đó.

Saturday, December 25, 2010

SỐ 07 KẾ TOÁN CÁC KHOẢN ĐẦU TƯ VÀO CÔNG TY LIÊN KẾT

SỐ 07 KẾ TOÁN CÁC KHOẢN ĐẦU TƯ VÀO CÔNG TY LIÊN KẾT
(Ban hành và công bố theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)

QUY ĐỊNH CHUNG

01. Mục đích của chuẩn mực này là quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán các khoản đầu tư của nhà đầu tư vào công ty liên kết, gồm: Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết trong báo cáo tài chính của riêng nhà đầu tư và trong báo cáo tài chính hợp nhất làm cơ sở ghi sổ kế toán, lập và trình bày báo cáo tài chính.

02. Chuẩn mực này áp dụng cho kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết của nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể trong công ty liên kết.

03. Các thuật ngữ trong chuẩn mực này được hiểu như sau:

Công ty liên kết: Là công ty trong đó nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể nhưng không phải là công ty con hoặc công ty liên doanh của nhà đầu tư.

ảnh hưởng đáng kể: Là quyền tham gia của nhà đầu tư vào việc đưa ra các quyết định về chính sách tài chính và hoạt động của bên nhận đầu tư nhưng không kiểm soát các chính sách đó.

Kiểm soát: Là quyền chi phối các chính sách tài chính và hoạt động của doanh nghiệp nhằm thu được lợi ích kinh tế từ hoạt động của doanh nghiệp đó.

Công ty con: Là một doanh nghiệp chịu sự kiểm soát của một doanh nghiệp khác (gọi là công ty mẹ).

Phương pháp vốn chủ sở hữu: Là phương pháp kế toán mà khoản đầu tư được ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó được điều chỉnh theo những thay đổi của phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu tư. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phải phản ánh phần sở hữu của nhà đầu tư trong kết quả kinh doanh của bên nhận đầu tư.

Phương pháp giá gốc: Là phương pháp kế toán mà khoản đầu tư được ghi nhận ban đầu theo giá gốc, sau đó không được điều chỉnh theo những thay đổi của phần sở hữu của nhà đầu tư trong tài sản thuần của bên nhận đầu tư. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh chỉ phản ánh khoản thu nhập của nhà đầu tư được phân chia từ lợi nhuận thuần luỹ kế của bên nhận đầu tư phát sinh sau ngày đầu tư.

Tài sản thuần: Là giá trị của tổng tài sản trừ (-) nợ phải trả.

NỘI DUNG CHUẨN MỰC

Nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể

04. Nếu nhà đầu tư nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công ty con ít nhất 20% quyền biểu quyết của bên nhận đầu tư thì được gọi là nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể, trừ khi có quy định hoặc thoả thuận khác. Ngược lại nếu nhà đầu tư nắm giữ trực tiếp hay gián tiếp thông qua các công ty con ít hơn 20% quyền biểu quyết của bên nhận đầu tư, thì không được gọi là nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể, trừ khi có quy định hoặc thoả thuận khác.

05. Nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể thường được thể hiện ở một hoặc các biểu hiện sau:

(a) Có đại diện trong Hội đồng quản trị hoặc cấp quản lý tương đương của công ty liên kết;

(b) Có quyền tham gia vào quá trình hoạch định chính sách;

(c) Có các giao dịch quan trọng giữa nhà đầu tư và bên nhận đầu tư;

(d) Có sự trao đổi về cán bộ quản lý;

(e) Có sự cung cấp thông tin kỹ thuật quan trọng.

Phương pháp vốn chủ sở hữu

06. Theo phương pháp vốn chủ sở hữu, khoản đầu tư được ghi nhận ban đầu theo giá gốc. Sau đó, giá trị ghi sổ của khoản đầu tư được điều chỉnh tăng hoặc giảm tương ứng với phần sở hữu của nhà đầu tư trong lãi hoặc lỗ của bên nhận đầu tư sau ngày đầu tư. Khoản được phân chia từ bên nhận đầu tư phải hạch toán giảm giá trị ghi sổ của khoản đầu tư. Việc điều chỉnh giá trị ghi sổ cũng phải được thực hiện khi lợi ích của nhà đầu tư thay đổi do có sự thay đổi vốn chủ sở hữu của bên nhận đầu tư nhưng không được phản ánh trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Những thay đổi trong vốn chủ sở hữu của bên nhận đầu tư có thể bao gồm những khoản phát sinh từ việc đánh giá lại TSCĐ và các khoản đầu tư, chênh lệch tỷ giá quy đổi ngoại tệ và những điều chỉnh các chênh lệch phát sinh khi hợp nhất kinh doanh.

Phương pháp giá gốc

07. Theo phương pháp giá gốc, nhà đầu tư ghi nhận ban đầu khoản đầu tư theo giá gốc. Nhà đầu tư chỉ hạch toán vào thu nhập trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh khoản được chia từ lợi nhuận thuần luỹ kế của bên nhận đầu tư phát sinh sau ngày đầu tư. Các khoản khác mà nhà đầu tư nhận được ngoài lợi nhuận được chia được coi là phần thu hồi các khoản đầu tư và được ghi nhận là khoản giảm trừ giá gốc đầu tư.

Báo cáo tài chính của riêng nhà đầu tư

08. Trong báo cáo tài chính của riêng nhà đầu tư, khoản đầu tư vào công ty liên kết được kế toán theo phương pháp giá gốc.

Báo cáo tài chính hợp nhất

09. Trong báo cáo tài chính hợp nhất của nhà đầu tư, khoản đầu tư vào công ty liên kết được kế toán theo phương pháp vốn chủ sở hữu, trừ khi:

(a) Khoản đầu tư này dự kiến sẽ được thanh lý trong tương lai gần (dưới 12 tháng); hoặc

(b) Công ty liên kết hoạt động theo các quy định hạn chế khắt khe dài hạn làm cản trở đáng kể việc chuyển giao vốn cho nhà đầu tư.

Trường hợp này, các khoản đầu tư được phản ánh theo giá gốc trong báo cáo tài chính hợp nhất của nhà đầu tư.

10. Việc ghi nhận thu nhập dựa trên cơ sở lợi nhuận được chia có thể không phản ánh đầy đủ thu nhập mà nhà đầu tư được hưởng từ khoản đầu tư vào công ty liên kết vì khoản lợi nhuận được chia đó có thể không phản ánh đúng thực tế hoạt động của công ty liên kết. Do nhà đầu tư có ảnh hưởng đáng kể đối với công ty liên kết và có trách nhiệm đối với hoạt động của công ty này, vì vậy, nhà đầu tư phải trình bày trong báo cáo tài chính hợp nhất phần sở hữu của nhà đầu tư trong kết quả hoạt động của công ty liên kết. Việc áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu sẽ cung cấp thông tin hữu ích hơn về tài sản thuần và lãi, lỗ thuần của nhà đầu tư.

11. Nhà đầu tư phải ngừng sử dụng phương pháp vốn chủ sở hữu khi:

(a) Không còn ảnh hưởng đáng kể trong công ty liên kết nhưng vẫn còn nắm giữ một phần hoặc toàn bộ khoản đầu tư; hoặc

(b) Việc sử dụng phương pháp vốn chủ sở hữu không còn phù hợp vì công ty liên kết hoạt động theo các quy định hạn chế khắt khe dài hạn gây ra những cản trở đáng kể trong việc chuyển giao vốn cho nhà đầu tư.

Trong trường hợp này, giá trị ghi sổ của khoản đầu tư từ thời điểm trên được coi là giá gốc.

Áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu

12. Khoản đầu tư được hạch toán theo phương pháp vốn chủ sở hữu kể từ thời điểm khoản đầu tư này thoả mãn định nghĩa về công ty liên kết. Khi mua một khoản đầu tư, bất cứ sự chênh lệch nào (dù dương hay âm) giữa giá gốc của khoản đầu tư và phần sở hữu của nhà đầu tư theo giá trị hợp lý của tài sản thuần có thể xác định được của công ty liên kết được hạch toán phù hợp với chuẩn mực kế toán “Hợp nhất kinh doanh”. Các khoản điều chỉnh phù hợp đối với phần sở hữu của nhà đầu tư trong lãi, lỗ sau ngày mua khoản đầu tư được thực hiện cho:

(a) Khấu hao TSCĐ (căn cứ vào giá trị hợp lý);

(b) Phân bổ dần các khoản chênh lệch giữa giá gốc của khoản đầu tư và phần sở hữu của nhà đầu tư theo giá trị hợp lý của tài sản thuần có thể xác định được.

13. Nhà đầu tư áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu phải sử dụng báo cáo tài chính hiện hành của công ty liên kết được lập cùng ngày với báo cáo tài chính của nhà đầu tư. Khi không thể thực hiện được điều đó thì các báo cáo tài chính lập vào những ngày khác nhau mới được sử dụng.

14. Khi báo cáo tài chính hiện hành của công ty liên kết được lập khác ngày với báo cáo tài chính của nhà đầu tư, việc điều chỉnh phải được thực hiện cho các ảnh hưởng của các sự kiện và giao dịch trọng yếu giữa nhà đầu tư và công ty liên kết phát sinh giữa ngày lập báo cáo tài chính của nhà đầu tư và ngày lập báo cáo tài chính của công ty liên kết.

15. Báo cáo tài chính của nhà đầu tư phải áp dụng các chính sách kế toán thống nhất cho các giao dịch và sự kiện giống nhau phát sinh trong các trường hợp tương tự. Trường hợp công ty liên kết áp dụng chính sách kế toán khác với nhà đầu tư cho các giao dịch và sự kiện giống nhau phát sinh trong các trường hợp tương tự, khi sử dụng báo cáo tài chính của công ty liên kết, nhà đầu tư phải thực hiện các điều chỉnh thích hợp nếu áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu. Trường hợp nhà đầu tư không thực hiện được các điều chỉnh đó thì phải giải trình trong Bản thuyết minh báo cáo tài chính của mình.

16. Nếu công ty liên kết có cổ phiếu ưu đãi cổ tức được nắm giữ bởi các cổ đông bên ngoài thì nhà đầu tư phải tính toán phần sở hữu của mình trong lãi hoặc lỗ từ công ty liên kết sau khi điều chỉnh cổ tức ưu đãi, kể cả khi việc trả cổ tức chưa được thông báo.

17. Theo phương pháp vốn chủ sở hữu, nếu phần sở hữu của nhà đầu tư trong khoản lỗ của công ty liên kết lớn hơn hoặc bằng giá trị ghi sổ của khoản đầu tư, nhà đầu tư không phải tiếp tục phản ánh các khoản lỗ phát sinh sau đó trên báo cáo tài chính hợp nhất trừ khi nhà đầu tư có nghĩa vụ thực hiện thanh toán thay cho công ty liên kết các khoản nợ mà nhà đầu tư đã đảm bảo hoặc cam kết trả. Trong trường hợp này, giá trị khoản đầu tư được trình bày trên báo cáo tài chính là bằng không (0). Nếu sau đó công ty liên kết hoạt động có lãi, nhà đầu tư chỉ được ghi nhận phần sở hữu của mình trong khoản lãi đó sau khi đã bù đắp được phần lỗ thuần chưa được hạch toán trước đây.

Các khoản tổn thất

18. Nếu có bằng chứng là khoản đầu tư vào công ty liên kết có thể bị tổn thất, doanh nghiệp phải áp dụng các quy định của Chuẩn mực “Tổn thất tài sản".

Thuế thu nhập

19. Thuế thu nhập doanh nghiệp phát sinh từ khoản đầu tư trong công ty liên kết (nếu có) được hạch toán phù hợp với chuẩn mực kế toán “Thuế thu nhập doanh nghiệp”.

Các khoản mục ngẫu nhiên

20. Khi có phát sinh khoản mục ngẫu nhiên, nhà đầu tư phải trình bày khoản mục ngoài dự tính đó phù hợp với các quy định của Chuẩn mực “Dự phòng, nợ phải trả và tài sản ngẫu nhiên”.

Trình bày báo cáo tài chính

21. Trong báo cáo tài chính, nhà đầu tư phải trình bày:

(a) Danh sách các công ty liên kết kèm theo các thông tin về phần sở hữu và tỷ lệ(%) quyền biểu quyết, nếu tỷ lệ này khác với phần sở hữu; và

(b) Các phương pháp được sử dụng để kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết.

22. Các khoản đầu tư vào công ty liên kết hạch toán theo phương pháp vốn chủ sở hữu phải phân loại như các tài sản dài hạn và phản ánh thành một khoản mục riêng biệt trên Bảng cân đối kế toán hợp nhất. Phần sở hữu của nhà đầu tư về lãi hoặc lỗ của những khoản đầu tư đó phải trình bày thành một khoản mục riêng biệt trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất./.

Monday, May 17, 2010

Chênh lệch nhiệt độ - thủ phạm gây ra sự chênh lệch về thời gian trong các thực nghiệm kiểm chứng thời gian giãn ra


Cập nhật lúc 08h06' ngày 26/12/2009

Thuyết tương đối hẹp cho rằng trong các hệ quy chiếu chuyển động, thời gian sẽ giãn ra. Nếu hai chiếc đồng hồ chạy đồng bộ với nhau thì khi đặt chúng vào trong hai hệ quy chiếu chuyển động với tốc độ khác nhau, chiếc đặt trong hệ quy chiếu chuyển động nhanh sẽ chạy chậm lại do thời gian giãn ra.

Để kiểm chứng giả thuyết về sự giãn ra của thời gian, nhiều thực nghiệm đã được tiến hành và sự chênh lệch thời gian giữa các đồng hồ đã xuất hiện. Thực nghiệm đầu tiên được tiến hành năm 1937 bằng việc đặt hai chiếc đồng hồ chính xác trên hai chiếc phi cơ bay theo hai hướng đông và tây. Kết quả thực nghiệm cho thấy chiếc đồng hồ trên chiếc máy bay bay về hướng tây chậm hơn chiếc trên máy bay bay về hướng đông.

Thực nghiệm thứ hai được tiến hành năm 1962, xin trích dẫn về thực nghiệm này được viết trong Lược sử thời gian của Stephen Hawking: “Một tiên đoán khác của thuyết tương đối rộng là thời gian dường như chạy chậm hơn khi ở gần những vật có khối lượng lớn như trái đất. Đó là bởi vì một mối liên hệ giữa năng lượng của ánh sáng và tần số của nó (tần số là sóng ánh sáng trong một giây): năng lượng càng lớn thì tần số càng cao. Khi ánh sáng truyền hướng lên trong trường hấp dẫn của trái đất, nó sẽ mất năng lượng và vì thế tần số của nó giảm. (Điều này có nghĩa là khoảng thời gian giữa hai đỉnh sóng liên tiếp tăng lên). Đối với người ở trên cao mọi chuyện ở phía dưới xảy ra chậm chạp hơn. Điều tiên đoán này đã được kiểm chứng vào năm 1962 bằng cách dùng hai đồng hồ rất chính xác: một đặt ở đỉnh và một đặt ở chân một tháp nước. Đồng hồ ở chân tháp, gần trái đất hơn, chạy chậm hơn - hoàn toàn phù hợp với thuyết tương đối rộng. Sự khác biệt của tốc độ đồng hồ ở những độ cao khác nhau trên mặt đất có một tầm quan trọng đặc biệt trong thực tiễn hiện nay khi người ta sử dụng những hệ thống đạo hàng chính xác dựa trên những tín hiệu từ vệ tinh. Nếu khi này người ta bỏ qua những tiên đoán của thuyết tương đối rộng, thì vị trí tính toán được có thể sai khác tới vài ba dặm!”

Nếu chỉ đơn thuần nhìn vào kết quả thì có thể thấy rằng các thực nghiệm trên đây là minh chứng của sự co giãn của thời gian. Nhưng khi xem xét thật kỹ càng các kết quả đó và so sánh với giả thuyết của thuyết tương đối thì các kết quả của các thực nghiệm đó là không phù hợp, thậm trí là ngược lại.

Trước hết, xuất phát từ giả thuyết của thuyết tương đối để dự đoán kết quả thực nghiệm. Với thực nghiệm tiến hành năm 1937, giả thiết là tốc độ máy bay đạt tốc độ âm thanh (khá cao so với thời kỳ đó) là 0,34km/s, độ cao đường bay là 6km, bán kính quỹ đạo đường bay tại xích đạo sẽ là 6384km, chiều dài đường bay 20.045,76km, thời gian bay trung bình của hai chiếc sẽ là 58958s = 16,37 giờ. Do trái đất quay từ tây sang đông với tốc độ của một điểm trên quỹ đạo máy bay tương ứng với một điểm trên mặt đất tại xích đạo là 6384*2*3.14/24=1668,9km/h = 0,464km/s cho nên tốc độ thực tế của chiếc máy bay bay về hướng tây sẽ là 0,34-0,464 = -0,124km/s, có nghĩa là mặc dù đồng hồ báo tốc độ trên máy bay chỉ 0,34km/s, nhưng máy bay đang bay giật lùi do khí quyển đang quay theo trái đất đẩy ngược lại, còn chiếc bay về hướng đông có tốc độ là 0,804km/s. Như vậy chiếc máy bay bay về hướng đông di chuyển trong không gian với tốc độ lớn hơn chiếc bay về hướng tây. Điều này có thể quan sát được khi lấy sao Bắc đẩu làm hệ quy chiếu.

Theo thuyết tương đối hẹp thì thời gian trên chiếc máy bay bay về hướng đông sẽ chậm hơn chiếc bay về hướng tây do nó di chuyển với tốc độ cao hơn. Nhưng kết quả thực nghiệm cho kết quả là chiếc đồng hồ trên máy bay bay về hướng tây chạy chậm hơn. Đây là kết quả ngược lại với dự đoán của thuyết tương đối hẹp. Mặt khác, nếu tính theo công thức thời gian giãn ra của thuyết tương đối thì chênh lệch về thời gian giữa hai máy bay sẽ chỉ là con số hơn 3 phần triệu của giây, một con số quá nhỏ không thể nhìn thấy trên những chiếc đồng hồ chạy bằng giây cót. Nói cách khác, điều kiện của thực nghiệm không cho phép phát hiện sự giãn ra của thời gian.

Vậy nguyên nhân của sự chênh lệch giữa hai đồng hồ là gì?

Có thể có nhiều nguyên nhân dẫn đến sai lệch này. Hãy xét đến điều kiện của thực nghiệm: trước thế chiến II chưa có máy bay hiện đại bay với tốc độ cao, máy bay chưa có đủ tiện nghi để đảm bảo môi trường trong máy bay cách ly được với môi trường bên ngoài. Với những điều kiện như vậy có thể thấy ngay rằng chiếc máy bay bay về hướng tây sẽ có thời gian bay trong ánh nắng mặt trời nhiều hơn chiếc bay về hướng đông, nhiệt độ trong máy bay đó vì vậy cũng cao hơn chiếc bay về hướng đông. Với môi trường nhiệt độ cao, các đồng hồ chạy bằng dây cót sẽ chạy chậm lại do nhiệt độ cao làm giảm tính đàn hồi của các dây cót, trong đó có dây cót của quả lắc. Các loại đồng hồ cơ không có cơ cấu loại trừ ảnh hưởng của nhiệt độ sẽ xuất hiện sai lệch thời gian giữa mùa đông và mùa hè, mùa đông đồng hồ chạy nhanh hơn mùa hè. Như vậy có thể khẳng định rằng chênh lệch về thời gian trong thực nghiệm có nguyên nhân từ sự chênh lệch về nhiệt độ chứ không phải là do thời gian giãn ra.

Điều này còn được khẳng định trong kết quả thực nghiệm năm 1962 nêu trên đây. Chúng ta có thể thấy ngay rằng hai tiên đoán của hai thuyết tương đối rộng và hẹp trong thực nghiệm này là mâu thuẫn với nhau. Nếu theo thuyết tương đối hẹp thì thời gian sẽ chậm lại khi đối tượng di chuyển với tốc độ cao hơn. Chân tháp nước và đỉnh tháp nước có cùng vận tốc góc, nhưng do bán kính (từ tâm trái đất) của đỉnh tháp lớn hơn chân tháp nên quãng đường đỉnh tháp phải di chuyển trong không gian sẽ lớn hơn và do đó tốc độ di chuyển của nó sẽ lớn hơn, đồng hồ đặt trên đỉnh tháp sẽ chạy chậm hơn đồng hồ đặt dưới chân tháp, còn tiên đoán của thuyết tương đối rộng lại cho rằng đồng hồ dưới chân tháp chạy chậm hơn.

Trong thực nghiệm này, những người tiến hành thực nghiệm đã bỏ qua một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến kết quả đó là nhiệt độ môi trường. Do hiệu ứng lồng kính và truyền nhiệt của không khí nên vùng môi trường của chân tháp có nhiệt độ cao hơn đỉnh tháp. Nếu chân tháp được phủ kín bằng bê tông thì nhiệt toả ra càng lớn và chênh lệch nhiệt độ càng thể hiện rõ. Tác dụng của sự chênh lệch nhiệt độ này lên các đồng hồ cũng giống như thực nghiệm năm 1937. Giống lạc đà đi trên sa mạc nhận biết được nhiệt độ không khí sẽ giảm dần theo độ cao từ mặt cát nên chân của chúng phát triển dài ra để phần cơ thể của chúng không phải tiếp xúc nhiều với vùng khí nóng. Kết quả thực nghiệm năm 1962 có vẻ phù hợp về mặt định tính với tiên đoán của thuyết tương đối rộng nhưng trái ngược với tiên đoán của thuyết tương đối hẹp.

Nhiệt còn tác động tới cả độ chính xác của các đồng hồ nguyên tử. Đồng hồ nguyên tử hoạt động dựa trên nguyên lý dao động của các nguyên tử. Mà sự dao động của các nguyên tử chịu tác động của nhiệt, nhiệt độ càng cao thì các nguyên tử dao động càng nhanh. Nếu hai đồng hồ nguyên tử được làm đồng bộ với nhau trong cùng một môi trường nhiệt thì chúng sẽ chỉ thời gian khác nhau khi chúng được đặt vào các môi trường nhiệt khác nhau, cái đặt trong môi trường nhiệt độ cao sẽ chạy nhanh hơn cái đạt trong môi trường nhiệt độ thấp. Đây là nguyên nhân của sự sai lệch đồng hồ nguyên tử trong các vệ tinh định vị so với các đồng hồ nguyên tử cùng loại trên mặt đất.

Môi trường nhiệt của các đồng hồ nguyên tử trong vệ tinh là rất thấp với khoảng âm 230oC, đây là nhiệt độ rất khó tạo ra trên mặt đất. Vì vậy sự chênh lệch nhiệt độ làm việc giữa các đồng hồ trong vệ tinh và trên mặt đất là không tránh khỏi, trong đó đồng hồ nguyên tử trên vệ tinh chạy chậm hơn đồng hồ nguyên tử trên mặt đất. Sự chênh lệch này khá phù hợp với tiên đoán của thuyết tương đối hẹp và là cơ sở cho những người ủng hộ sử dụng để bảo vệ thuyết tương đối. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sai lệch của đồng hồ đo thời gian.Tiến hành thực nghiệm xác định tác động của nhiệt lên đồng hồ là không phức tạp và kết quả cũng dễ quan sát. Dựa vào các kết quả sai lệch giữa các đồng hồ để cho rằng có sự co giãn của thời gian sẽ là một sự ngộ nhận.

Cùng với giải thuyết mới về môi trường truyền sóng, việc xác định được đúng nguyên nhân gây ra các sai lệch giữa các đồng hồ đã bác bỏ giả thuyết về sự co giãn của thời gian.

Bài viết do bạn đọc Phùng Văn Hòa cung cấp
Email:
phungvanhoa22@yahoo.com.vn

Phùng Văn Hòa

Sunday, May 16, 2010

SONG LỘC TRÙNG PHÙNG...


Một bạn hỏi.
Thưa bác, có câu phú là "Song Lộc trùng phùng chung thân phú quý", vậy mà nhiều sách lại nói Song Lộc không nên đồng cung, vì chúng khắc hành của nhau. Nếu đồng cung sẽ không tốt. Vậy quan điểm của bác thế nào ạ? Và nếu không tốt thì cụ thể là không tốt như thế nào ạ? Hay chỉ là không tốt bằng Song Lộc hội họp, còn có Song Lộc trùng phùng thì vẫn tốt hơn là không có cái Lộc nào ạ? Cháu rất mong được bác chỉ giáo ạ. Cháu xin cảm ơn bác nhiều.
Trả lời:
Ai nói không tốt thì tìm người đó mà hỏi. Phải hỏi cho rõ không tốt là không tốt như thế nào?
Cũng có thể có trường hợp Song Lộc mà không tốt. Thậm chí còn họa nữa cơ.
Vì sao?
Ví dụ PHÁ QUÂN + Song LỘC tốt hay xấu? Trong này có cát xứ tàng hung.
Ví dụ 2 CỰ MÔN + Song LỘC tốt hay xấu? Vẫn cách kể trên.
Ví dụ 3. KHÔNG KIẾP + Song LỘC tốt hay xấu?. Cái kho chứa tai họa, hay tai họa vẫn còn tồn tại...
Ví dụ 4. HÓA KỴ + Song Lộc tốt hay xấu? Sự nghi kỵ vẫn còn tại đó...
Ví dụ 5. PHÁ QUÂN hoặc CỰ MÔN + Song LỘC + KHÔNG KIẾP tốt hay xấu. Hoặc như trên gia thêm KỴ.
Vậy thì Song Lộc tốt hay xấu. Một cái thiên Lộc trời ban, một cái Hóa Lộc do mình làm ra. Một ví dụ rất cụ thể cụ Phạm với cách Song Lộc không thể chết vì đói, dù bị mất bố mẹ rất là sớm, ứng với Hổ Sát liếm cung Phụ Mẫu, cụ được bà cô đem về nuôi dưỡng, lại tiếp được Tây bảo trợ viết báo Nam Phong tạp chí, cụ cũng không dại dột ca ngợi thực dân. Đến khi vua Bảo Đại mời ra làm quan, ta phải hình dung rằng, có ai đó ngấm ngầm giới thiệu, ngoài Bắc có học giả Phạm Quỳnh đạo đức, tài năng... mời Bệ Hạ đọc các tạp chí này để biết. Chứ vua Bảo Đại chân ướt chân ráo mới về nước làm sao biết được. Chắc chắn không phải là người cùng phe, mua quan bán tước, đút lót hối lộ. Nếu không phải là ngôi sao may mắn THIÊN LƯƠNG + Song Lộc + KHÔI VIỆT + Tả Hữu mới có chuyện kỳ tích như vậy.
Như vậy Song Lộc cũng có 5,7 đường tùy thuộc vào hung tinh cát tinh mà luận. Một người có bộ Song Lộc không có phá cách, cũng chẳng có trợ cách chắc chắn là hưởng sự sang giàu rồi, vì hưởng của cha mẹ để lại (thiên lộc Lộc Tồn) và đồng thời hưởng Hóa Lộc (do công việc làm ra).
Có phải là cụ Phạm là người nhờ đạo đức lương tâm mà sinh ra tiền của không. Cho nên HÓA LỘC sinh ra từ THIÊN LƯƠNG. Bạn đã biết Lương Vi Phụ Vũ rồi.
Nếu bộ Song Lộc đi với phá cách đương nhiên là xấu, xấu như thế nào căn cứ vào Kỵ KHÔNG KIẾP PHÁ CỰ mà nói. Chứ cách Song Lộc không thể là cách xấu, đừng đổ thừa đổ lỗi cho hành này hành khác. Nếu mê tín vào hành đọc cho kỹ nè.
Nếu bạn mạng Mộc kỵ Kim phải không? Đúng chưa?. Đúng rồi phải không, thế thì vàng, bạc, bạch kim không nên cất giữ, đeo mang làm gì, mang họa đấy. Phương án tốt nhất gởi biếu, cho tặng... BỬU ĐÌNH này.
Nếu bạn mạng Kim, bạn chú ý nè. Đô, đồng Euro thuộc hành Mộc, khắc kỵ bản mệnh cất giữ rất nguy hiểm, họa không hết, kể tốt nhất là dâng hiến cho tui. Đồng polime thì sao? Thuộc Thổ, không thể cãi nó lôi lên từ dầu hỏa, phó sản của dầu. Thế các người mạng Thủy cất giữ thế nào cũng mang bệnh tật, thị phi... thôi thì gởi gắm vào đây. Nói có sách mách có chứng, ngày nào báo chí cũng có những tin tức tai họa xa gần về tiền bạc, quý kim liên quan đến cướp đoạt, tranh giành, trộm cướp tham nhũng...
Vậy thì HÓA LỘC không nên có hành, vì sao? Nó có thể sinh ra từ LIÊM TRINH, PHÁ QUÂN, THIÊN CƠ... Tại sao cha tôi hành Hỏa, Hành Thủy, Hành Mộc... tôi thì hành khác. Có chăng là Hành Hạ bắt nó mang một cái hành.
Chỉ cần biết hành của chính tinh là đủ. Các bàng tinh không nên bận tâm đến.
Phú viết:
“Song LỘC thủ mệnh LÃ HẬU chuyên quyền”.
Chuyên quyền là gì, lên mạng vào các trang tự điển, kể cả Wiki cũng không thấy từ, tự điển nào giải thích từ này.
Chuyên quyền là một mình nắm giữ quyền lực. Tự điển Hán Việt Đào Duy Anh.
Cầm riêng quyền chính. Tự điển Thiều Chửu.
Đó là những câu định nghĩa ngắn gọn. Người viết rất thích những câu định nghĩa ngắn gọn như vậy. Nhưng cảm thấy vẫn chưa đầy đủ. Vì sao? Với định nghĩa kể trên chuyên quyền không khác gì độc tài là mấy. Vì chuyên quyền còn có nghĩa “lấn quyền hạn” và tự tung tự tác.
Ví dụ ở Huế người ta thường nói: Thằng này tự tung tự tác (tự chuyên tự tác) chưa kìa, muốn làm như thế phải hỏi ý kiến cha mẹ (chú bác...)... Để làm sáng tỏ 2 chữ chuyên quyền, chuyên là tự mình làm. Sau đây là một vài ví dụ có thật một số tác giả viết.
“Chế độ chuyên quyền của Tổng thống Ferdinand Marcos . …”
“...Các thành viên của Liên tuyến này đã cáo buộc Chủ tịch Quốc dân đảng Lý Đăng Huy là có xu hướng chuyên quyền và đưa đảng xa rời mục tiêu …”
“...Nguyễn Hữu Chỉnh nhân lúc Tây Sơn có biến bèn chuyên quyền, muốn chống lại Tây Sơn. Trong khi đó tại miền Nam, giữa năm 1787 , Nguyễn Ánh từ …”
“....lên ngôi năm 1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý và chấm dứt khi vua… Hồ Quý Ly làm việc chuyên quyền và chiếm lấy ngôi nhà Trần. …”
“...Ung Chính còn được biết đến như một nhà vua chuyên quyền, nghiêm khắc trong thời gian trị vì của mình. Ông căm ghét tham nhũng và trừng …”
“...Giả hậu chuyên quyền: Giả hậu thấy vua Huệ Đế ngây ngô, muốn đoạt quyền hành. Nhữ Nam vương Tư Mã Lượng bàn mưu kết tội Dương Tuấn chuyên quyền. …”
“...Vốn đã bị cáo buộc là có khuynh hướng chuyên quyền, nay Gandhi sử dụng thế đa số tại quốc hội để tu chính Hiến pháp nhằm tước khỏi tay các …”
“...nhà Hán cũng đang rối loạn do mâu thuẫn giữa các phe cánh của Hà Tiến và các hoạn quan, cũng như sau đó là sự chuyên quyền của Đổng Trác . …”
“...Trong hơn mười năm cầm quyền bính, Trương Phúc Loan đã lạm dụng … vì sự chuyên quyền vơ vét của Trương Phúc Loan phát động phong trào Tây Sơn . …”
“...Tư Mã Chiêu đã nắm giữ quyền lực trong triều Ngụy, quyền lực trước đó … Năm 249 , Tư Mã Ý giết chết Tào Sảng , bắt đầu chuyên quyền quốc chính …”
“...Dựa vào thế lực của Thái hậu, từ đó Vương Phượng và các anh em họ Vương tất cả 7 người chuyên quyền, chia nhau nắm giữ các chức vụ quan …ngoại thích Dương Tuấn nắm quyền, Giả hậu bèn cùng Đông An công Tư Mã Do và Nhữ Nam vương Tư Mã Lượng bàn mưu kết tội Dương Tuấn chuyên quyền. …”
“...vương triều này bắt đầu suy yếu do vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) còn nhỏ, lại bị người cậu ruột là Thái sư Bùi Đắc Tuyên chuyên quyền. …”
Trên có khá nhiều ví dụ về chuyên quyền với nghĩa lấn quyền, tự tung tự tác. (tự tiện tự tác)
Như Marcos, Tổng Thống Phi, xem Quốc hội không ra gì ưa chi làm nấy, tự tung tự tác chẳng thông qua Quốc hội, coi Quốc hội như lũ bù nhìn, như thế là vi hiến. (chú ý tùy theo hiến pháp của nước ấy, không nước nào giống nước nào, từ đó tội nặng, nhẹ biểu quyết truất quyền Tổng thống).
Cùng mang ý như trên còn có Đổng Trác coi Hiến Đế như đứa con nít, với quyền lực của mình (tuy là Thừa Tướng) nhưng Đổng Trác có thể thay thế vua rất dễ. Cũng vậy Thái Sư (thầy của vua) Bùi Đắc Tuyên vừa là Thái Sư, là cậu của Vua Cảnh Thịnh, xem Cảnh Thịnh chẳng ra cái gì cả.
Như vậy các tổng thống, thủ tướng dễ bị chụp mũ chuyên quyền, vượt quá giới hạn quyền lực của mình mới gọi là chuyên quyền, tự tung tự tác. Nhưng vua thì sao? Đương nhiên là chuyên quyền rồi, bởi thế mới gọi là “quân chủ chuyên chế” tức chế độ chuyên quyền của vua. Nhưng các minh quân chẳng chuyên quyền đâu, đặt chức Thái Sư để cố vấn cho nhà vua, đặt chức Gián nghị để can gián vua, phân quyền cho Tể tướng để nhẹ bớt công việc của mình. Cũng từ đó các quan Tể tướng, Thái sư dễ trở thành chuyên quyền. Bây giờ bạn đã hiểu rất rõ chuyên quyền là gì. Tùy theo chế độ chính trị mà xã hội đó có thể xảy ra chuyên quyền hay không. Vì tổng thống có quyền phủ quyết và cả quốc hội cũng có quyền hạn ấy. Khi một đạo luật được thông qua quốc hội, rõ ràng không vi hiến, vấn đề còn lại là có thực dụng hay không mà thôi.
Trở lại với TỬ VI.
Bà Lã Hậu chuyên quyền do Song Lộc thủ MỆNH. Do sự chuyên quyền này mà Hàn Tín bị giết. Cũng vì Hòang Hậu với nghĩa vua bà, có thể thay chồng xử lý công việc khi vắng mặt hoặc vua mất bất ngờ, có thể rối loạn triều cương, vì thế nhà Nguyễn nước ta không phong hoàng hậu.
Tết Nguyên Đán Lưu Bang lấy cớ cầm binh để Lữ Hậu chấp chính, bà ta mời Hàn Tín đến dự yến và sai Ngự Lâm Quân bắt đem ra chợ chém đầu. Năm ấy Tín 32 tuổi.
LÁ SỐ bà Lữ Hậu Giáp Dần ngày 7 tháng 3 giờ Dần.
Muốn chuyên quyền phải có quyền mới chuyên quyền, hoặc ít ra phải có những sao ham thích quyền lực như VŨ KHÚC ưa giải quyết vấn đề. Cộng với bộ Song Lộc mới chuyên quyền.
Vậy thì có bao nhiêu cách Song Lộc tại MỆNH ?
10 cách Song Lộc.
Tuổi Giáp tại Dần. với cách LIÊM TRINH tại Dần, vì câu: Giáp Liêm Phá Vũ Dương.
Tuổi Ất tại Mão, với cách CỰ CƠ có cách Cát xứ tàng hung, vì câu: Cơ Lương Vi Nguyệt. Lần lượt ta lại có.
Tuổi Bính với THIÊN ĐỒNG tại Tị tức có CỰ CƠ hội họp.
Tuổi Đinh với bộ ĐỒNG ÂM tại Ngọ.
Tuổi Mậu với THAM LANG tại Tị, tức cách Liêm Tham. Bị cách Lộc phùng xung Phá.
Tuổi Kỷ với VŨ PHỦ cư Ngọ.
Tuổi Canh với CỰ NHẬT tại Thân, cách này bị Cát xứ tàng hung.
Tuổi Tân với cách CỰ CƠ tại Dậu bị Cát xứ tàng hung.
Tuổi Nhâm với THIÊN LƯƠNG tại Hợi cụ Phạm được cách này.
Quý PHÁ QUÂN cư Tý bị Lộc phùng xung Phá.
Trong 10 cách Song Lộc tại MỆNH chỉ thật sự hay, chỉ có LIÊM TRINH tại Dần, THIÊN ĐỒNG tại Ngọ, VŨ PHỦ tại Ngọ, THIÊN LƯƠNG tại Hợi. Được gọi là hay, hoàn chính nhất. Và nếu chuyên quyền chỉ có cách LIÊM TRINH tại Dần, VŨ PHỦ tại Ngọ là chuyên quyền mà thôi. Vì sao VŨ ưa đứng ra giải quyết sự việc. Các trường hợp còn lại không nên gọi là chuyên quyền.
Thực tế cho thấy cụ Phạm chưa ai kết luận cụ là chuyên quyền cả. Giỏi lắm thì cụ được quyền cho phép gặp nhà vua hay không mà thôi. Cụ dễ bị những người phản đối cho là tay sai của thực dân Pháp. Vì cách Tả Hữu tại MỆNH.
Một lời nói là một đọi máu. (đọi tức là bát, đó là phương ngữ người Huế, nói dễ hiểu là một lời nói là một bát máu). Cho nên đoán TỬ VI không nên vơ quàng vơ xiên những câu phú vào để cột bậy bạ. Thấy sao thì nói vậy.
Song Lộc tốt hay là xấu, cũng tùy thuộc vào hung cát tinh, chính tinh với nó mà luận. Thấy sao nói vậy.
Từ vị trí cung MỆNH của cụ Phạm bộ Song Lộc rất là đẹp. Cũng y như vậy, qua hạn tại Quan cung Song Lộc + CỰ xung+ KHÔNG tất thị không còn đẹp nữa. Là do KHÔNG, do CỰ lại thêm năm lưu KỴ thế là họa đến.
Không có gì buồn cười cho là song Lộc xấu, xấu là do có KỴ, KHÔNG KIẾP, CỰ, PHÁ...
MỘT BẠN HỎI
Cám ơn Bác về bài viết thật hữu ích cả về tử vi lẫn kiến thức lịch sử ạ.
Cháu xin phép Bác cho cháu hỏi ké câu song Lộc đồng cung trong chủ đề kế tiếp ạ. Cháu cũng thắc mắc là nhiều người nói Lộc hội chiếu tốt hơn nhưng ai cũng nói nếu mà gặp Kiếp thì coi như bị nó "xơi" hết lộc và còn mang hoạ nữa. Xin Bác chỉ dạy thêm cho cháu ạ.

Làm gì có chuyện sao này cắn, nhậu, xơi... nhai ngấu nghiến sao kia. Quan niệm như thế bao giờ giỏi TỬ VI được.
LỘC TỒN ngộ KIẾP là tai họa vẫn còn có đó. Ví dụ bệnh ưng thư di căn, có cắt đi vẫn mọc lên cái khác.
Đây là một ví dụ mới cứng của ngày hôm nay.
Một căn nhà bị xe tải lao vào hai lần
Căn nhà một trệt, gác gỗ trên đường Hồ Hảo Hớn (quận 1, TP HCM) bị xe bồn đâm nứt tường hai ngày trước đây, sáng nay tiếp tục bị ôtô tải lao thẳng vào.
Trong lần bị đâm này, mảng tưởng phía trước của căn nhà sập hoàn toàn khi đầu xe tải đã chui thẳng vào bên trong. Lúc xe lao vào, bên trong anh Hoàng Văn Nội (33 tuổi, ngụ Nghệ An) đang nằm ngủ nhưng bừng tỉnh kịp lao ra ngoài, thoát nạn.
Theo biên bản hiện trường, lúc khoảng 4h sáng, chiếc xe tải 15 tấn chở sắt vào công trường xây dựng tòa nhà hành chính của Trường Đại học Mở TP HCM. Như lần trước, do đường hẹp nên khi lùi xe vào bên trong không được, tài xế gặp nhấn ga tới thì tông thẳng vào căn nhà đối diện.
Trước đó sáng ngày 7/5, một xe trộn bêtông khi vào công trường này cũng đã đâm nứt tường căn nhà trên. Trong lúc chủ xe cho công nhân tiến hành sửa chữa căn nhà thì sáng nay chiếc xe khác lại lao vào.
Bình luận:
Những căn nhà ở vị trí cua tay áo, Nhất là có độ dốc từ cao xuống, không sớm thì muộn, không trước thì sau, xe cũng lao vào nhà. Như thế là Tồn Kiếp đấy. Chẳng có kho vàng, kho bạc gì cả.
Hai kẻ thù nhau ở trong một nhà, một cơ quan, một tổ chức... thậm chí ở trong một nước thế nào cũng đánh nhau trở lại. Vì thế không thể hòa hợp, hòa giải được phải ly dị thôi. Biết đấy là khu vực nghĩa địa, đất sạt... làm nhà ở đấy là tồn tại một tai kiếp. Biết chất nổ, chất dễ cháy tàng trữ là tồn tại một tai kiếp... Học TỬ VI không hiểu... cũng tồn kiếp. Viết như thế này mà không hiểu, chẳng còn cách viết nào khác.
Nguồn trích dẫn (0)

Sunday, May 9, 2010

Hé lộ bí ẩn mới về cuộc đời của Shakespeare


Cập nhật lúc 17h07' ngày 13/04/2010

Các nhà khảo cổ học Anh quốc tin tưởng rằng họ sắp khám phá những bí mật chưa từng biết đến trước đây về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn thiên tài William Shakespeare.

Công việc khai quật nơi ở của Shakespeare đang thu được những kết quả khả quan. Ảnh: Telegraph


Niềm tin này đến từ những kết quả khả quan của dự án khai quật lâu đài – nơi ở của nhà văn nổi tiếng này ở Stratford-upon-Avon.

Các chuyên gia khảo cổ học đã bắt đầu việc khai quật New Place ở Stratford-upon-Avon–nơi ở của nhà văn Shakespeare cách đây 250 năm. Mặc dù lâu đài này đã bị đổ nát gần như hoàn toàn, nhưng các nhà khoa học cho rằng họ đã xác định được vị trí thùng đựng rác và nước thải được Shakespeare nhắc đến trong một bài thơ của ông.

Tại khu vực này, các nhà khảo cổ đã thu được những mảnh gốm bị vỡ và tẩu thuốc. Đây được cho là những coi là những phát hiện quan trọng nhất về cuộc đời của Shakespeare trong nhiều thập kỷ qua.

Tiến sĩ Diana Owen, giám đốc hội Shakespeare Birthplace Trust và là giám đốc dự án khai quật, nói: “Chúng tôi không biết liệu khu vườn này có được Shakespeare sử dụng hay không. Nhưng việc khai quật lần này có thể thu được những kết quả ngạc nhiên, đặc biệt nếu đây đúng là vị trí chứa rác và nước thải của gia đình Shakespeare”.

Trong khi đó, tiến sĩ Kevin Colls, đến từ Viện Khảo cổ học Birmingham, cho biết thêm: “Theo những tư liệu lịch sử, chúng ta biết rằng Shakespeare sống tại lâu đài New Place nhưng chúng ta có rất ít thông tin về thiết kế của lầu đài này và các khu vườn quanh nó. Tuy nhiên, thông qua kết quả khai quật từ những kiến trúc còn lại và các đồ vật tìm thấy, chúng ta hy vọng sẽ giải đáp được những bí ẩn trên”.

Paul Edmondson, một chuyên gia tại hội Shakespeare Birthplace Trust, cho rằng: "Kết quả từ dự án khai quật này có thể làm thay đổi quan điểm của chúng ta về Shakespeare. Chúng ta đã biết rằng Shakespeare sở hữu một lâu đài khác tại London, nhưng có thể ông cần một nơi yên tĩnh để sáng tác".

"Thế nên, tại sao ông lại không về lâu đài cũ của mình để làm việc? Tôi tin rằng Shakespeare là một nhà văn nổi tiếng ở London, nhưng những tác phẩm kinh điển của ông phần lớn được sáng tác ở Stratford” .

Từ nay cho đến tháng 10/2010, khách tham quan vẫn có thể theo dõi quá trình khai quật của các nhà khảo cổ học tại khu vực quanh lâu đài New Place. Các chuyên gia khảo cổ học hy vọng những kết quả khai quật sẽ giúp chứng minh được giả thuyết rằng Shakespeare đã viết phần lớn các tác phẩm nổi tiếng của ông tại lâu đài này.
Theo VietNamNet

Monday, May 3, 2010

Phát hiện bộ xương người trên Mặt Trăng?


Bức ảnh bộ xương người trên mặt trăng khiến cộng đồng khoa học xôn xao. Ngay lập tức, nhiều giả thuyết được đặt ra. Bức ảnh trên được tiến sĩ Kang Mao-pang (người Trung Quốc) tung ra. Ông Mao-pang cho biết, đây là bức ảnh được tàu Apollo 11 ghi lại khi tàu này hạ cánh xuống mặt trăng năm 1969. Tuy nhiên, bức ảnh này thuộc nhóm tài liệu mật và ngay cả những phi hành gia có mặt trên Apollo 11 cũng không biết tới sự hiện diện của nó.
Bức ảnh xương người trên mặt trăng làm chấn động thế giới. (Nguồn: Theo Weekly World News)Điểm đặc biệt là bộ xương này lại mặc quần bò. Có những dấu hiệu cho thấy, dường như xác chết của người xấu số đã ở trên tàu không gian rất lâu trước khi bị đẩy lên bề mặt mặt trăng. Bởi theo lẽ thường, xác chết sẽ không thể phân hủy trong môi trường không trọng lực. Tiến sĩ Kang cũng chính là người từng làm chấn động giới khoa học khi đưa ra các bức ảnh về vết chân của con người trên Mặt Trăng tại một hội thảo được tổ chức tại Bắc Kinh. Lần này, bức ảnh bộ xương người của ông lại tiếp tục đặt ra nhiều dấu hỏi. Theo ông Kang, đằng sau bức ảnh này phải ấn chứa những bí mật rất ghê gớm bởi người Mỹ tìm mọi cách che giấu bí mật này trong suốt thời gian dài. Nhận định của ông Kang càng được khẳng định khi một chuyên gia tình báo và vũ trụ Mỹ tìm cách lẩn trốn không trả lời câu hỏi của phóng viên về vấn đề này. Những người khác từ chối bình luận về vụ việc này. Trước đó có thời gian xôn xao thông tin cho rằng, theo yêu cầu của Bộ Quốc phòng Mỹ và CIA, NASA đã phải ra chỉ thị xóa toàn bộ những hình ảnh và số liệu viễn trắc từ Mặt