Triết lý sống

Phàm làm việc gì trước phải suy xét đến hậu quả của nó
Hành động của người quân tử là giữ tĩnh lặng để tu thân, cần kiệm để dung dưỡng đức độ. Không đạm bạc thì không thể có trí tuệ sáng suốt, không yên tĩnh thì không có chí vươn xa. Học thì phải cần yên tĩnh, muốn có tài năng phải học; không học thì không biết rộng, không có chí thì việc học không thành.

Mong muốn lan man thì không thể nảy sinh cái tinh túy, vội tìm cái hiểm hóc thì không nắm được cái thực tình. Thời gian tuổi tác qua nhanh, ý chí cùng ngày tháng trôi đi trở thành khô héo, phần lớn không tiếp cận được với thời đại, rồi buồn tủi nơi lều nát, sao còn khôi phục lại kịp cái chí hướng được nữa !

Monday, December 27, 2010

Chính Sách của Chính Phủ

John Kane

Dịch viên: Nguyễn Hương Lan

Trong chương này, chúng ta sẽ bàn tới chính sách của chính phủ với việc kinh doanh, với sự chú ý đặc biệt về luật chống bán phá giá.

Hai lời giải thích về sự can thiệp của chính phủ vào thị trường là:

1. Lý thuyết lợi ích công (Public Interest Theory)

2. Lý thuyết bắt giữ (Capture Theory)

Lý thuyết lợi ích công cho biết chính phủ sẽ có những hành động nhằm sửa chữa sự thất bại của thị trường.Quan điểm này cho thấy chính phủ sẽ có những hành động nhằm cải thiện phúc lợi xã hội nói chung. Mặc dù vậy, những người tin vào lý thuyết bắt giữ cho rằng hành động của chính phủ là nhằm phân phối sự giàu có giữa các cá nhân và các nhóm trong xã hội. Lý thuyết bắt giữ cho biết những nhóm lợi ích đặc biệt nhận được lợi từ sự can thiệp của chính phủ trong nền kinh tế. Những người ủng hộ cho quan điểm này cho rằng thậm chí những nhóm hưởng lợi từ sự can thiệp của chính phủ cuối cùng cũng sẽ bị "bắt giữ" bởi các chi nhánh chính phủ có nhiệm vụ kiểm soát họ.

Chống bán phá giá

Biện pháp tập hợp thị trường được Bộ Tư pháp Hoa Kỳ sử dụng là chỉ số Herfindahl (Herfindahl Index), chỉ số này được định nghĩa là tổng thị phần được tính theo thứ tự (theo tỷ lệ phần trăm) của tất cả các công ty trong một ngành. Trong một ngành độc quyền một người, điều này sẽ tương đương 10000 (mười ngàn). Nếu có 100 công ty quy mô bằng nhau trong một ngành, chỉ số Herfindahl sẽ bằng 100. Bộ Tư pháp cho rằng một ngành trong đó chỉ số Herfindahl thấp hơn 1000 có tính cạnh tranh tương đối cao. Chỉ số Herfindahl nằm giữa 1000 và 1800 cho biết một ngành có mức cạnh tranh vừa phải. Một ngành được coi là tập trung cao nếu chỉ số Herfindahl vượt quá 1800.

Cơ sở của luật chống bán phá giá ở Hoa Kỳ là Đạo luật chống bán phá giá Sherman năm 1890 (Sherman Antitrust Act of 1890). Đạo luật này cấm các công ty can dự vào các hoạt động làm "kiềm chế" thương mại. Mặc dù ban đầu, đạo luật này được sử dụng để phá vỡ nhiều công ty độc quyền, do đạo luật này không xác định hoạt động nào là bất hợp pháp. Tuy nhiên đạo luật Clayton năm 1914 (Clayton Act of 1914) (và những sửa đổi tiếp theo, đưa ra một danh sách các hoạt động bị coi là vi phạm luật chống bán phá giá). Đặc biệt, đạo luật Clayton cấm các công ty can dự vào việc phân biệt giá cả nhằm giảm tính cạnh tranh và cấm can dự vào dàn xếp riêng biệt và rằng buộc các hợp đồng làm hạn chế cạnh tranh.

Ban đầu, các toà án theo "nguyên tắc hữu lý" (rules of reason) cho rằng sự quy mô vẫn chưa phải là bằng chứng của một việc vi phạm luật chống bán phá giá. Điều này thay đổi cùng với vụ Alcoa năm 1945 trong đó sự quy mô, tự nó đã đủ bằng chứng cho thấy việc vi phạm luật chống bán phá giá. Mặc dù vậy, vào những năm 1980, Bộ Tư pháp và các quyết định toà án tiếp theo thực sự quay trở lại "nguyên tắc hũu lý" trước đó.

Kiểm soát (Regulation)

Trong những năm trước kia, Hoa Kỳ kiểm soát các ngành xe tải, máy bay và đường sắt. Lý do hợp lý đằng sau sự kiểm soát vì cần nhằm ngăn chặn "sự cạnh tranh phá hoại" (destructive competition) sẽ dẫn tới thất bại của những ngành mới với chi phí cố định tương đối cao. Tuy nhiên, vào những năm 1970, ngành xe tải và hàng không không còn bị kiểm soát nữa. Chi phí vận tải trong những ngành này giảm xuống tương đối đáng kể.

Như trong sách giáo khoa của bạn có ghi, chính phủ cũng can dự vào rất nhiều hoạt động kiểm soát xã hội.


Copyright (c) 2006 by kinhtehoc.com

Sunday, December 26, 2010

Risk-payoff analysis

39.1 Purpose
39.2 Strengths, weaknesses, and limitations
39.3 Inputs and related ideas
39.4 Concepts
39.4.1 Risk and uncertainty
39.4.2 Quantifying risks, uncertainties, and payoffs
39.4.3 The risk-payoff matrix
39.5 Key terms
39.6 Software
39.7 References

39.1 Purpose

An organization is often faced with numerous information system development opportunities and inadequate funds to pay for them all. Risk-payoff analysis is widely used to evaluate and prioritize information system projects based on their relative risks (and uncertainties) and their potential payoffs.

39.2 Strengths, weaknesses, and limitations

Risk-payoff analysis is a useful tool for screening out projects that are associated with large risks or uncertainties, thus saving resources for more promising projects. Intangible risks and payoffs are very difficult to quantify, however, and other tools and techniques such as cost/benefit analysis (# 38) must still be used.

39.3 Inputs and related ideas

Before performing a risk-payoff analysis, a given project must be understood in enough depth to reasnably estimate its likely risks, uncertainties, and payoffs. Generally, such estimates cannot be made until near the end of the problem definition stage (Part II), and estimates made after the analysis stage (Part IV) is concluded are likely to be much more accurate. In some organizations, risk-payoff analysis is performed when the feasibility study reports (# 13) for proposed projects are evaluated by a steering committee.

39.4 Concepts

Risk-payoff analysis is widely used to evaluate and prioritize information system projects based on their relative risks (and uncertainties) and their potential payoffs.

39.4.1 Risk and uncertainty

Every information systems project is associated with risk, uncertainty, or both. Risks are possible negative outcomes that can be interpreted, estimated, or quantified by applying past experience. Uncertainties are possible negative outcomes that cannot be interpreted or estimated based on experience because they never happened before. In the discussion that follows, the term risk implies risk, uncertainty, or both. Note, however, that risk-payoff analysis requires that all parameters, including uncertainty, be defined and documented in an easily quantifiable form.

Technological change is perhaps the most obvious risk associated with developing an information system, but there are many others. User or technical personnel might be under-trained, inadequately skilled, or not sufficiently computer literate. A project might be unexpectedly delayed or a given phase might be rushed in an effort to stay on schedule. The need to deal with side issues might slow progress. Poor user or data requirements analysis or incomplete data collection during the problem definition or analysis stages might cause delays during design. Inadequate testing or poor implementation procedures can negatively impact training, maintenance, or user acceptance of the system. The list is endless.

39.4.2 Quantifying risks, uncertainties, and payoffs

The first step in the risk-payoff analysis process is to investigate the possible risks associated with each project and categorize them as tangible or intangible.

The midpoint value associated with each tangible risk is estimated based on such quantifiable parameters as cost, time, resource requirements (people, computers, etc.), and experience. The midpoint is determined by selecting a middle or average value from a range of reasonable estimates. For example, if the cost of a delayed shipment is estimated to lie between $50,000 and 150,000, the midpoint is $100,000.

The midpoint for each intangible risk is estimated using subjective or objective judgment. Often, the informed opinions of several experts are combined to form a range of reasonable values from which the midpoint is selected. The risks (tangible and intangible) associated with a given project are then summed to get a project total.

Quantifying risk is difficult (at best). An analyst might consider such factors as expected failure or error rates, the average elapsed time for new versions of relevant technology to reach the market, estimates of the completeness or quality of significant software, and typical or baseline values associated with a given methodology (e.g., object-oriented, structured) or operating concept (e.g., batch, client-server). Even given such factors, however, there is no way to perfectly quantify risk. Reasonable (or ballpark) estimates can usually be generated, however.

Given estimates of risk, the possible payoffs associated with each project are identified and categorized as tangible or intangible. Once again, the midpoints for each tangible payoff are estimated using quantifiable parameters, the midpoints for the intangible payoffs are estimated using judgment, and the tangible and intangible values are summed.

39.4.3 The risk-payoff matrix

The final step is to construct a risk-payoff matrix (Figure 39.1), with risk on the x-axis and payoff on the y-axis. The risk and payoff midpoints previously computed for each project are then used as x and y coordinates to position each project on the matrix.


Figure 39.1 A risk-payoff matrix.

On the matrix, the average payoff (for all projects) defines a line marking the horizontal midpoint and the average risk defines a line marking the vertical midpoint. Together, those two lines divide the matrix into four quadrants. Area 1 (top right) is the high payoff, high risk quadrant. Area 2 (bottom right) is low payoff and high risk. Area 3 (top left) is high payoff and low risk. Area 4 (bottom left) is low payoff and low risk.If a given project lies in area 1, the recommended action is to wait until additional analysis reduces the risk.

If the project lies in area 2, the recommended action is to stop immediately (abandon the project). If the project lies in area 3, the recommended action is to advance immediately so the project can be completed as quickly as possible. If the project lies in area 4, the recommended action is to do nothing until adequate resources are available or until the expected payoff increases.

39.5 Key terms

Intangible —
Difficult to define in concrete, physical (e.g., financial) terms.
Midpoint —
The middle or average value from a range of reasonable estimated values for a parameter.
Payoff —
A benefit.
Risk —
A possible negative outcome that can be interpreted, estimated, or quantified by applying past experience.
Tangible —
Easily defined, concrete, physical; for example, payoffs, risks, and uncertainties that can be expressed in financial terms are considered tangible.
Uncertainty —
A possible negative outcome that cannot be interpreted or estimated based on experience because it has never happened before.

39.6 Software

Not applicable.

39.7 References

1. Gibson, M. L. and Hughes, C. T., Systems Analysis and Design: A Comprehensive Methodology with CASE, Boyd & Fraser, Boston, MA, 1994.
2. Laudon, K. C. and Laudon, J. P., Managing Information Systems: A Contemporary Perspective, Macmillan, New York, 1991.

Kinh Tế Học Cổ Điển và Chủ Nghĩa Tư Bản

Harry M. Cleaver, Jr.

Dịch Viên: Nhân Thụy

Malthus với vấn đề "tình trạng thừa thải quá mức" hay "cơn khủng hoảng"

Tuy những lý lẽ của Malthus phần lớn có biện hộ cho chế độ tư bản trong xã hội, nhưng ông vẫn không mù quáng đến nỗi không thấy được mô hình này đang phát triển không đều và ông chính là người đầu tiên nhận thấy được nó đang đối mặt với một vấn đề tái diễn là thị trường đã quá tải và vấn đề những cơn khủng hoảng thừa, tức là xãy ra tình trạng thất nghiệp, sự suy sụp về tài chính, v.v.… Đối với những nhà kinh tế cổ điển cùng thời thì quan điểm này của ông bị xem như một quan điểm lập dị.

Như chúng ta đã biết qua với Adam Smith, tầm nhìn của các nhà kinh tế cổ điển chỉ trong phạm vi là thị trường và cơ cấu định giá của nó hoạt động nhằm mang đến sự phân bổ những nguồn tài nguyên và hàng hoá cho xã hội một cách trơn tru dễ dàng. Có thể đây là tình trạng sụp đổ tạm thời hoặc giả chỉ đối với ngành mậu dịch, ví dụ như các nhà sản xuất các sản phẩm may mặc có thể ước lượng nhu cầu về mặt hàng của họ quá mức và do đó tạm thời "cung cấp quá mức" cho thị trường, nhưng trong trường hợp như vậy người ta sẽ tin rằng mức cung gia tăng liên quan đến mức cầu sẽ làm mức giá giảm xuống và cũng sớm làm cho cung liên kết trở lại với cầu. Hoặc giả, giai đoạn tích luỹ quá nhanh có thể gia tăng mức lương trên mức bình thường, nhưng theo như Smith và Malthus, mức lương gia tăng như thế sớm muộn cũng dẫn đến tình trạng gia tăng nguồn cung lao động, và từ đó lại đẩy mức lương giảm lại.

Jean-Baptiste Say (1767-1832) là người thể hiện rõ tầm nhìn cổ điển này, ông cho rằng thị trường có thể loại bỏ tình trạng khủng hoảng, ông là một nhà kinh tế học người Pháp và rất ngưỡng mộ Adam Smith. Say đưa ra nhiều lập luận về vấn đề này trong chương XV, quyển I của tác phẩm Trait d'economie politique của ông:

"Chú ý rằng một sản phẩm sau khi làm ra sớm muộn cũng được tung ra thị trường mà trong đó đã đầy các sản phẩm khác. Khi nhà sản xuất đó hoàn tất sản phẩm của mình, ông ta chỉ quan tâm đến việc làm sao để bán sản phẩm ra ngoài ngay lập tức để cho nó không bị mất giá nếu bị tồn kho. Ông ta cũng không ít quan tâm đến việc dùng số tiền mà ông ta có để sản xuất ra nó; bởi vì giá trị của đồng tiền cũng sẽ bị giảm. Nhưng cách duy nhất để tiêu thụ số tiền đó là mua món hàng khác. Do vậy chỉ trong trường hợp tạo ra một sản phẩm sẽ lập tức mở ra một lối thoát cho những sản phẩm khác."

Những phát biểu như thế đã phổ biến đến tầm nhìn của thị trường và dẫn đến mọi người thườg xuyên tham khảo cái gọi là "Quy luật Say", nghĩa là "mức cung sẽ tự tạo ra mức cầu cho riêng nó" (supply creates its own demand) điều này như một chân lý hiển nhiên về hành vi của nền kinh tế thị trường nói chung -- nếu không phải nằm trong trường đặt biệt. Mặt khác, Malthus xem xét đến thực tiễn vấn đề tư bản chủ nghĩa trong thời của ông ta và thấy được những vấn đề đang nổi cộm lên mà sau này những nhà kinh tế gọi là "chu kỳ kinh doanh" hay bằng một cái tên ít lạc quan hơn "những cơn khủng hoảng". Ông thấy rằng những chu kỳ hay cơn khủng hoảng như thế không có giới hạn trong một thị trường đặc biệt nào cả, cũng như Smith, ông tin rằng nếu chúng xãy ra thường xuyên thì chính những người như công nhân, thương buôn, ngân hàng, v.v.... sẽ phải gánh hậu quả. Ông lập luận rằng dù có phải như vậy hay không thì con người phải nhận thức được sự tồn tại về những gì đang tái diễn trở lại, những gì mà ông gọi là "khủng hoảng thừa phổ biến" và định nghĩa của nó như sau:

"Khủng hoảng thừa được xem là phổ biến bắt nguồn từ nguồn cung thừa thải quá mức hay do mức cầu giảm đi, một lượng hàng hoá đáng kể bị giảm giá trị xuống thấp hơn cả chi phí cơ bản được bỏ ra để sản xuất ra nó"

Quan điểm của Malthus về "khủng hoảng thừa" gây nên một cuộc tranh luận giữa ông và những người bạn của ông cũng như với nhà kinh tế David Ricardo - đồng nghiệp của ông. Như chúng ta thấy rằng đây không chỉ là vấn đề duy nhất mà ông và Ricardo không có cùng một quan điểm.

David Ricardo

Trong khi Thomas Malthus giảng dạy tại tại một ngôi trường do một công ty lớn nhất thời đó lập ra, thì David Ricardo (1772-1823) là con của một doanh nhân và chính ông cũng là một doanh nhân giàu có và chơi cổ phiếu. Trong số những nhà kinh tế ít quan tâm đến lịch sử tư duy kinh tế, Ricardo được xem như một nhà kinh tế "cổ điển" quan trọng xếp thứ hai sau Adam Smith. Sở dĩ ông có danh tiếng như thế một phần bắt nguồn từ những quan điểm có giá trị của ông về những vấn đề quan trọng, nhưng nguyên nhân chính là bắt nguồn từ cách mà ông đưa ra những lý lẽ của mình dưới hình thức những mô hình kinh tế về mặt lý thuyết. Không giống như những bài viết của Smith hay thậnm chí của Malthus, những bài viết của Ricardo được thể hiện tương đối xúc tích ngắn gọn mà không có nhiều minh hoạ bằng những chi tiết lịch sử hay nói lạc hướng sang những vấn đề thứ yếu khác. Trong cuốn Tài sản quốc gia của mình, Smith có nói lướt qua khía cạnh lịch sử con người, thì trong cuốn Những Quy Luật Về Kinh Tế Chính Trị Và Hệ Thống Thuế, Ricardo chỉ tập trung vào vấn đề của mình. Căn cứ vào sự yêu chuộng các mô hình mang tính chính xác của các nhà kinh tế cùng thời, ta dễ dàng thấy được nguồn gốc những gì mà ông ta thường bị ảnh hưởng.

Tuy nhiên ngoài những vấn đề về phương pháp luận, thì những điểm nổi bật các tác phẩm của Ricardo chính là nó đã chuyển từ quan điểm của Smith tập trung vào việc làm ra tài sản bằng phương pháp đầu tư và tích luỹ nay chuyển sang một hướng khác là tập trung vào việc phân phối những gì được sản xuất ra. Ricardo đã nêu rõ điều này ngay trong phần mở đầu của quyển Những Quy Luật:

Để xác định những quy tắc nào sẽ chi phối đến việc phân phối này phải dựa vào vấn đề chính trong kinh tế chính trị: khi khoa học ngày càng phát triển cùng với những bài viết của Turgot, Stuart, Smith, Say, Sismondi, và những người khác, thì họ chỉ cung cấp được một lượng thông tin ít ỏi liên quan đến những vấn đề tự nhiên thường ngày như tô thuế, lợi nhuận, và tiền lương."

Nói cách khác, vấn đề mà Ricardo quan tâm đến là làm sao xác định được sự tiến triển tương đối của tô thuế, lợi nhuận, và tiền lương qua nhiều năm. Như chúng ta thấy, Smith đã nói rằng tiền lương có khuynh hướng thay đổi bất thường theo mức sống và lợi nhuận có khuynh hướng giảm và tăng chậm vì nền kinh tế đã phát triển hoàn chỉnh, nhưng ông đã không đưa ra một lý thuyết hợp lý nào về những khuynh hướng như thế. Mặc khác, đối với vấn đề những giới hạn khả năng sản xuất nông nghiệp theo sự phát triển của dân số mà ông đang quan tâm, Malthus đã đưa ra một lý thuyết về khuynh hướng chuyển biến của tô thuế - Ricardo cũng chấp nhận thuyết này, ông cho rằng do ngành trồng trọt chuyển từ những mảnh đất màu mở sang những mảnh đất ít màu mở hơn cho nên tỉ số sinh lời giữa chúng sẽ trở nên chênh lệch nhau và do đó tô thuế giữa chúng cũng sẽ khác nhau.

Trong chương 2 quyển Những Quy Luật, Ricardo có nói:

"Sở dĩ như vậy là do số lượng đất đai bị hạn chế, độ màu mở thì không đồng đều và cũng do trong quá trình phát triển của dân số, những loại đất xấu hay nằm ở những vị trí bất lợi đều được sử dụng cho mục đích trồng trọt, mà khi sử dụng những loại đất như thế thì bao giờ cũng phải trả thuế cả. Trong quá trình phát triển của xã hội, khi loại đất thứ cấp được đưa vào sử dụng cho mục đích trồng trọt, thì tô thuế lập tức bắt đầu tính với loại đất có độ phì nhiêu nhất, và số lượng tô thuế bao nhiêu sẽ tuỳ thuộc vào sự khác biệt ở độ màu mở giữa hai loại đất này."

Cũng tương tự vậy, Ricardo cho rằng nếu vẫn đầu tư thêm vốn và nhân công cho những mảnh đất đang sử dụng, dù cho lợi nhuận có giảm thì tô thuế vẫn phát sinh nhiều:

"Trước khi đất loại 2, 3, 4, hay 5 hay đất xấu bạc màu được sử dụng trong nông nghiệp thì vốn có thể đầu tư một cách hữu hiệu vào những loại đất như thế những loại đất đã được sử dụng vào mục đích trồng trọt, điều này vẫn thường xãy ra và thực chất nó rất phổ biến. Có lẽ người ta sẽ nhận thấy rằng bằng cách tăng gấp đôi số vốn vào đất loại 1, mặc dù sản lượng không tăng gấp đôi, thì nó cũng không tăng đến 100 góc tạ (ở Anh; bằng 12,70 kg), nhưng cũng tăng khoảng 85 góc tạ, và sản lượng này vượt xa sản lượng mà đất loại 3 mang lại khi được đầu tư cùng một số vốn như vậy. Trong trường hợp như thế, số vốn tốt hơn nên đầu tư vào những loại đất mà mình đã sử dụng và số tô thuế phát sinh sẽ bằng nhau; bởi vì số tô thuế chính là hiệu số giữa sản lượng đạt được với số lượng tương ứng về vốn và nguồn lao động."

Do sự tích luỹ tư bản cùng với sự phát triển ồ ạt của dân số đã khiến cho ngành trồng trọt liên tục chuyển từ những mảnh đất tốt hơn sang những mảnh đất nghèo nàn hơn, hay do chi phí đầu tư vào số lượng đất giới hạn ngày càng tăng, thì hậu quả tất yếu là làm giảm lợi nhuận và làm tô thuế liên tục gia tăng, và do đo một phần sản lượng của quốc gia sẽ vào tay của tầng lớp địa chủ.

Nhưng Ricardo đồng tình với quan điểm của Malthus là tiền lương ở mức vừa đủ sống cố định hay không (hoặc giả tăng chậm do yêu cầu tái sản xuất của tầng lớp lao động gia tăng) là do sự phát triển của dân số. Nói cách khác, nếu tiền lương tăng so với "mức giá tự nhiên" của sức lao động (tức là so với mức vừa đủ sống) thì cuộc sống người công nhân sẽ khá hơn, số lượng công nhân sẽ tăng và tiền lượng lại sẽ giảm. Tương tự thế, nếu lương giảm dưới mức bình thường, thì số lượng công nhân sẽ giảm và lương lại sẽ tăng. Đây cũng là vấn đề mà Ricardo quan tâm (trong chương 2 quyển Những Quy Luật của ông):

Đó là khi giá lao động thị trường vượt qua mức giá bình thường của nó, điều kiện làm việc tốt và vui vẻ, người lao động có quyền đòi hỏi nhiều hơn về những nhu cầu thiết yếu cho họ và tận hưởng cuộc sống, và do đó họ có thể nuôi cả một gia đình đông đúc khoẻ mạnh. Tuy nhiên với những điều kiện động viên như thế - lương tăng cao cho số người tăng lên - thì số lượng công nhân tăng lên, lương lại giảm xuống mức cơ bản, và thật vậy từ sự phản tác dụng đôi khi làm nó giảm đi.

Khi giá lao động thị trường giảm xuống so với mức cơ bản, điều kiện làm việc thì kém: do đó cái nghèo đã tước đi những thứ tiện nghi thiết yếu đã trở thành quá quen của họ. Và nảy sinh ra tình trạng sau đó, sự thiếu thốn của họ làm giảm đi số nhân công, hay nói cách khác nhu cầu về lao động tăng lên, giá lao động thị trường lại tăng so với mức giá cơ bản, và người lao động sẽ có được những tiện nghi vừa phải mà mức lương cơ bản mang đến."

Lưu ý: do đó Ricardo đồng tình quan điểm với Malthus khi công kích Luật Tế Bần của Anh và kêu gọi huỷ bỏ nó hoàn toàn và tạo một thị trường lao động tự do.

Do đó nếu tô thuế tăng và lương giữ nguyên không đổi, thì lợi nhuận sẽ bị mức tô thuế tăng và mức lương giữ nguyên đó (hoặc tăng) chèn ép và sẽ giảm đi. Bởi vì lợi nhuận là phương tiện dùng cho đầu tư nên với khuynh hướng giảm lợi nhuận như thế sẽ thật sự làm cho tình trạng sản xuất càng trở nên trì trệ.

Như Ricardo kết luận trong chương 6 về vấn đề lợi nhuận:

"Khuynh hướng tự nhiên của lợi nhuận là giảm xuống do quá trình phát triển của dân số và tài sản, phần lượng thực phẩm tăng thêm chỉ có thể đạt được do sự hy sinh ngày càng nhiều của tầng lớp lao động. […] tỉ lệ lợi nhuận thấp như thế sẽ kìm hãm sự tích luỹ và hầu như là kìm hãm sản lượng chung của cả nước, sau khi trả lương, thì sẽ là tài sản của chủ đất và của những người thu thuế thập phân và những loại thuế khác."

Do vậy, những lý thuyết về lương, lợi nhuận, và tô thuế của Ricardo làm cho viễn cảnh tương lai của tư bản chủ nghĩa thậm chí còn ảm đạm hơn những gì mà Malthus nói. Không chỉ người nghèo không thể giàu có mà cả những nhà tư bản cũng thế. Chỉ có địa chủ là hưởng lợi và với sự phát triển của lợi nhuận như vậy thì chỉ làm cho họ trắng tay do lợi nhuận giảm cũng làm cho đầu tư giảm theo và sản xuất đình trệ.

Vấn đề "khủng hoảng thừa" Ricardo đã đồng tình với Quy Luật Say, và dùng nó như một lập luận chống lại ý kiến cho rằng khủng hoảng được tạo ra trong quá trình tích luỹ thông, mà Keynes gọi là "tổng mức cầu không thoả", tức là tổng mức cầu cho các loại hàng hoá không được thoả mãn đầy đủ dẫn đến sự cung ứng những loại hàng này cho thị trường. Ông ta cũng không sai khi nhận ra một vài thị trường có thể bị khủng hoảng thừa -trong thời của ông ta nó là vấn đề thường bị tái diễn - nhưng khủng hoảng đó không trở thành cuộc khủng hoảng phổ biến rộng khắp.

Trong quyển Những Quy Luật, chương 21 về "Những Hậu Quả Của Tích Luỹ Lợi Nhuận Và Lợi Tức", ông có đề cập đến vấn đề này:

Chúng ta dùng chính sản xuất hay dịch vụ để mua sản xuất; tiền chỉ là một phương tiện trao đổi trung gian hữu hiệu mà thôi. Khi một sản phẩm nào đó được làm ra quá nhiều thì thị trường của sản phẩm đó sẽ bị khủng hoảng thừa, để không phải hoàn lại số vốn đã bỏ ra cho sản phẩm đó; nhưng đây không phải là trường hợp chung cho tất cả các loại hàng hoá; mức cầu của bắp ngô giới hạn với số người ăn, mức cầu của giày dép và áo khoát giới hạn với số người mặc; thế nhưng cả

cộng đồng hoặc một phần có thể muốn tiêu thụ ngô cũng như nón và giày dép nhiều hơn. Một số người có thể tiêu thụ nhiều rượu hơn nếu họ có khả năng mua nó. Còn những người đã tiêu thụ đủ rượu rồi thì lại muốn mua hoặc nâng cấp chất lượng đồ đạc trong nhà. Những người khác thì muốn trang trí lại khu vườn hay xây nhà của họ to thêm. Ước muốn làm được những điều như thế đã khắc sâu vào mỗi con người chúng ta; để thực hiện chẳng cần gì ngoài phương tiện, để có được phương tiện chẳng cần gì ngoài gia tăng sản xuất. Nếu tôi có thức ăn và những thứ cần thiết tuỳ nghi sử dụng, thì tôi không phải chờ đợi để có được chúng như những người công nhân - những người mà đã đem đến cho tôi quyền được sở hữu những gì hữu dụng đối với tôi và những gì tôi muốn" (đây là vấn đề tôi quan tâm)

Việc bác bỏ khả năng khủng hoảng thừa là phổ biến lại bị Malthus bác bỏ bằng những lập luận riêng của mình, khi nhìn lại, đã biến ông trở thành những người khởi đầu cho dòng lập luận thiên về lý thuyết, những lập luận liên quan đến tầm quan trọng của vấn đề tích luỹ tổng mức cầu thoả đáng, những lập luận này hoạt động xuyên suốt từ thời của ông với những bài phê bình chủ nghĩa tư bản của Marx và John Hobson cho đến thời đại với những bài viết của những vị cứu tinh như John Maynard Keynes.

Trong phần III chuơng I tập I quyển Những Quy Luật Kinh Tế Chính Trị, ông nói lên sự phản bác của mình như sau:

"Một số tác giả tài năng nghĩ rằng mặc dù một loại hàng hoá nào đó dễ dàng bị khủng hoảng thừa, nhưng không phải tất cả các mặt hàng đều như vậy; bởi vì theo như quan điểm của họ về vấn đề này thì hàng hoá luôn được trao đổi bằng hàng hoá, một nửa này sẽ cung cấp cho thị trường dành cho nửa còn lại, và do đó sản xuất chỉ thoả mản cho một nguồn nhu cầu duy nhất, một sản phẩm có mức cung quá thừa chứng tỏ rằng mức cung cho một số sản phẩm khác lai thiếu hụt, và đối với trường hợp mức cung chung thì không xãy ra như vậy.[…] Tuy nhiên, học thuyết này trong khi nó được áp dụng nhiều nhưng đối với tôi nó hoàn toàn vô căn cứ, và hoàn toàn trái với những nguyên tắc về luật cung và cầu."

Trong phần đó ông đặt ra một vấn đề liệu có khả năng gia tăng nguồn tiền tiết kiệm và đầu tư (tích luỹ) đối với sự phát triển có bị giới hạn gì hay không. Và câu trả lời của ông là vẫn có một số giới hạn nào đó, những giới hạn này có là do khi nguồn tiền tiết kiệm gia tăng cùng với chi phí giảm vì nhu cầu giảm.

Ông chỉ ra rằng trong quyển Những Quy Luật của mình Ricardo đã thừa nhận nếu lương tăng ,số lợi nhuận giảm dần, và những nhà tư bản thì tìm kiếm cho mình những khoản khác bù vào đó về cơ bản là giảm bớt chi tiêu nhằm có được thặng dư để đầu tư, thì việc giảm nhu cầu tiêu thụ của họ gắn liền với sự tích luỹ và gia tăng mức cung , cả ba vấn đề này có thể là nguyên nhân dẫn đến "những cơn tổng khủng hoảng thừa". Tuy nhiên, Ricardo lại xác nhận rằng "những gì được nói trên không phải là một nguyên tắc chung", tức là cơn khủng hoảng chung là không thể xãy ra. Ngược lại Malthus nói là do "một nước có thể gia tăng lượng tiền nhằm duy trì nguồn lao động nhanh hơn là gia tăng dân số" cho nên trường hợp đặc biệt của Ricardo chẳng phải là đặc biệt gì và có thể tái diễn đều đặn.

Đối với vấn đề này, Malthus cũng đưa thêm vào một số lập luận khác: giả sử năng xuất tăng và hàng hoá giảm giá chẳng phải làm cho nhu cầu hàng hoá tăng lên mà là tăng nhu cầu để có thời gian rảnh rổi ("sự biếng nhác"). Ông nói khuynh hướng thích có thời gian nhàn rổi như thế (và chúng ta biết rằng ông nghĩ là người công nhân ghét phải làm việc) nghĩa là cung sẽ vượt cầu và "một cơn khủng hoảng chung" sẽ xãy ra.

Sau cùng Malthus lập luận: thật sai lầm khi cho rằng -như Ricardo cho là như thế -- việc chi tiêu số tiền tiết kiệm dành cho tích luỹ sẽ tạo ra nhu cầu gia tăng sản luợng khi được đầu tư. Lấy nông dân và nhà sản xuất làm ví dụ, ông nói là số tiền tiết kiệm của họ gia tăng thì nhu cầu của mỗi người về hàng hoá của người còn lại sẽ giảm và sẽ tạo nên cơn khủng hoảng chung. Dĩ nhiên trong lập luận này Malthus lại không phân biệt được "mặt hàng sản xuất" và "mặt hàng tiêu dùng" và do đó không thể đánh giá đúng mức cầu cho "mặt hàng sản xuất" -- một sai lầm thông thường trong lịch sử những thuyết "tiêu thụ dưới mức" của trong cơn khủng hoảng.

Bàn về vấn đề Luật Hạn Chế Nhập Khẩu Ngô vào Anh Quốc

Một luận điểm không thống nhất giữa Malthus và Ricardo về một vấn đề khác - một vấn đề gây nhiều tranh cải trong xã hội - chính là Luật hạn chế nhập khẩu ngô - mà theo luật này cũng hạn chế nhập khẩu cả lúa mì - có nên bị giảm bớt hay loại bỏ hay không. Hiện tại, những việc có liên quan đến tranh cải này nên được làm sáng tỏ dựa vào những vấn đề xung đột trong Tổ Chức Thuơng Mại Thế Giới (WTO) cũng như những nổ lực của tổ chức này nhằm tiến đến giảm bớt hàng rào mậu dịch.

Ngay sau những cuộc chiến tranh của Napoleon, những người bạn thuộc nghị viện của tầng lớp địa chủ đã giới thiệu luật này vào năm 1815 nhằm giử cho mức giá ngũ cốc ở mức cao, những loại ngũ cốc này chiếm nhiều ưu thế trong thời gian xãy ra chiến tranh do mậu dịch bị chiến tranh làm cho đình trệ. Giá ngũ cốc duy trì ở mức cao liên tục như thế gây hại cho cả người công nhân - những người phải trả tiền mua bánh mì, và cả nhà sản xuất - những người phải trả đủ lương cho công nhân mua bánh mì, và gây tôn hại đến những ai có khả năng xuất khẩu nhưng lại bị giới hạn bởi những nước không thể bán lúa mì sang nước Anh.

Sau khi thông qua sửa đổi năm 1832 với sự tán đồng của tầng lớp tiểu tư sản và thương buôn và buộc nghị viên phải quan tâm chú ý đến họ, họ bắt đầu lập ra tổ chức nhằm kêu gọi bãi bỏ đạo luật đó. Một tổ chức chống đạo luật đó được thành lập vào năm 1836 và vào năm 1839 trở thành Hội Liên Hiệp Chống Luật Hạn Chế Nhập Ngô. Chiến dịch này hoạt động cho đến năm 1846 vì khi đó xãy ra nạn đói lớn ở Ái Nhĩ Lan, và chính phủ đã huỷ bỏ đạo luật này. Nạn đói này xãy ra thường không phải do thiếu lương thực mà do người công nhân không có đủ tiền để mua. Không đủ tiền mua lương thực do hai nguyên nhân: đầu tiên nguyên nhân trực tiếp của cái nghèo là mùa màng thu lợi chính của Ái Nhĩ Lan thất bát do sâu bệnh, thứ hai - mang tính lịch sử, là do đế quốc Anh xâm chiếm Ái Nhĩ Lan, chiếm hết đất của họ chỉ chừa lại một phần đất nhỏ để họ trồng trọt mà thôi. Xin lưu ý rằng, trang "Web Victoria" không nói sâu về nạn đói mà chỉ tập trung vào Anh, đầu tiên họ phớt lờ đến nạn đói này, sau đó lại cung cấp một phần cứu trợ ít ỏi và sau đó gửi quân sang kiểm soát vùng thuộc địa này. Kết quả từ những chính sách của đế quốc Anh là cái chết hàng loạt của những người dân thuộc địa: dân số Ái Nhĩ Lan từ 8,2 triệu người giảm xuống còn 6,5 triệu trong vòng mười năm. Dù sao đi nửa, như trang web này có nói đến, việc huỷ bỏ bộ luật này cũng chẳng giúp gì cho người Ái Nhĩ Lan trong cơn khủng khiếp này bởi vì thậm chí khi giá thực phẩm hạ xuống thấp nhưng họ cũng vẫn không đủ tiền mua.

Chính những sự kích động chống đối lại bộ luật gây nên cuộc tranh cãi giữa Malthus và Ricardo. Cả hai người họ sớm đi vào cuộc tranh luận, đầu tiên là Malthus với bài luận Luật Hạn Chế Nhập Ngô năm 1814 và một bài khác Một Số Lý Do Cho Quan Điểm Về Chính Sách Hạn Chế Nhập Khẩu Ngô Từ Nước Ngoài năm 1815 và cùng năm đó Ricardo đưa ra bài phản luận: Luận Về Những ảnh Hưởng Mức Giá Thấp Của Ngô Đến Lợi Nhuận Vốn.

Trong khi bài luận đầu vào 1814 của Malthus cố gắng thể hiện và đánh giá cả những lý lẽ trái ngược nhau, thì bài thứ hai rõ ràng nghiêng về ủng hộ cho bộ luật này. Mặc dù ông nhận ra những ưu thế thông thường mà mậu dịch tự do mang đến bao gồm cả cách mà khi nhập khẩu lúa mì tăng thì làm cho giá ngũ cốc cũng như bánh mì giảm, nhưng Malthus cũng cho rằng những trường hợp đặc biệt như vậy đã làm cho thuế xuất nhập khẩu tăng cao. Những trường hợp đặc biệt mà ông đưa ra đều là những rủi ro đối với những quốc gia khác đặc biệt là Pháp với sản lượng ngũ cốc khổng lồ, những quốc gia này cố gắng xuất khẩu ngũ cốc ra nước ngoài nhưng xuất khẩu sang Anh thì có thể bị cắt giảm. Hay nói cách khác, ông cho rằng, người Anh phải lãnh chịu hậu quả khi theo đường lối tự do mậu dịch trong khi những nước khác thì không. Khi đưa ra trường hợp thế này, ông cũng nêu trường hợp cắt giảm nhập khẩu ngũ cốc vào Anh trước đó, tức là trong suốt thời gian nổ ra chiến tranh thời Napoleon, và cho thấy những hậu quả từ việc tăng giảm giá cũng như trữ lượng ngũ cốc một cách đột ngột và mạnh mẽ.

Để phản luận lại Malthus, Ricardo bàn về vấn đề tô thuế -- nhưng nhìn chung cũng đồng ý với Malthus về vấn đề này - và tiếp tục tranh luận rằng mức giá thực phẩm và tô thuế phải nộp cho địa chủ quá cao khi đó chỉ làm lợi cho họ và gây tổn hại cho những người khác: "lợi ích của tầng lớp địa chủ luôn đối lập với lợi ích của những tầng lớp khác trong xã hội. Ông ta chẳng bao giờ có được một cái nhìn bao quát, bởi vì khi đó thực phẩm khan hiếm và đắt đỏ trong khi mọi người khác lại có thể mua được thực phẩm với giá rẻ."

Những gì Ricardo lưu tâm trong vấn đề mức giá cao của thực phẩm là chính nó ban đầu được hỗ trợ bởi sự thiếu vắng số ngũ cốc nhập khẩu suốt những năm chiến tranh, và sau đó lại được Luật Hạn Chế Nhập Khẩu Ngô hậu thuẫn và gây tác động tiêu cực đến lợi nhuận vốn: "chúng ta có thể dễ dành chứng minh được rằng trong mỗi xã hội mà khi tài sản cũng như dân số của nó tăng trưởng độc lập với những tác động do mức lương nhiều hay ít gây ra, thì lợi nhuận chung phải giảm trừ khi nông nghiệp được cải tiến, và có thể nhập khẩu ngô với giá rẻ hơn." Do vậy, tốt hơn hết là giữ nguyên mọi thứ nhưng giá ngũ cốc phải rẽ hơn thông qua tự do nhập khẩu bởi vì nó sẽ giúp làm giảm mức lương và tăng lọi nhuận.

Nhưng Malthus cho rằng không phải mọi thứ đều được giữ nguyên không đổi, mà ngược lại còn gây ra mối nguy hại cho việc nhập khẩu ngũ cốc vào Anh và do đó nền kinh tế Anh có nguy cơ bị tác động tiêu cực mạnh mẽ. Về mặt này, Ricardo đáp lại rằng: thứ nhất, một khi lượng ngũ cốc xuất khẩu sang Anh đạt được trữ lượng lớn trở thành một việc bình thường rồi thì không có nước nào có thể cắt giảm được trữ lượng xuất đó nữa trừ khi mùa màng thất bái hay có bạo loạn xãy ra (ông có trích dẫn ví dụ về hậu quả của việc Bonaparte cắt giảm lượng xuất ngũ cốc của Nga);thứ hai, cũng giống như thời đó nước Anh vẫn có thể có được số ngũ cốc từ những quốc gia khác (như Mỹ đã nhận ra điều này khi nó phong toả không cho bán ngũ cốc sang Afghanistan trong suốt thời kỳ mà Afghanishtan còn chịu sự ảnh hưởng của Xô-Viết) đặc biệt là khi Anh thi hành chính sách tự do mở rộng thị trường thì những nhà sản xuất từ các nuớc kéo nhau phát triển sản xuất với một mục đích duy nhất là xuất khẩu qua Anh; thứ ba, sự giảm sút trong sản xuất nông nghiệp của Anh do giá ngũ cốc rẽ có thể được làm lắng dịu lại bằng chính sách mậu dịch ngày càng tự do hơn và dù cho có rút vốn ra khỏi ngành nông nghiệp và đầu tư vào sản xuất các mặt hàng có giá trị và dù cho chi tiêu của địa chủ có giảm đi do tô thuế giảm thì cũng có thể lấy mức chi tiêu gia tăng từ lợi nhuận và lương để bù vào.

Như đã được đề cập ở trên, mặc dù Ricardo và những người chống đối lại luật hạn chế nhập ngô nhìn chung được sự ủng hộ của những học giả trong những cuộc tranh luận, nhưng quyền hạn của tầng lớp địa chủ chính là để duy trì bộ luật hạn chế nhập ngô, thay thế cho những bộ luật khác trong vòng 30 năm.


Copyright (c) 2006 by kinhtehoc.com

Phi đối xứng thông tin

Phi đối xứng thông tin (hay thông tin phi đối xứng), trong kinh tế học, là trạng thái bất cân bằng trong cơ cấu thông tin - giữa các chủ thể giao dịch có mức độ nắm giữ thông tin không ngang nhau.

Khái quát

Một trong những giả thiết để có một thị trường hoàn hảo là kết cấu thông tin cũng phải hoàn hảo. Giữa các chủ thể kinh tế tham gia giao dịch có thông tin đầy đủ như nhau về nhau và về đối tượng giao dịch. Trái với kinh tế học cổ điển và tân cổ điển, kinh tế học Keynes cho rằng thị trường hiếm khi hoàn hảo và kinh tế học Keynes mới chỉ ra rằng phi đối xứng về thông tin chính là một nhân tố gây ra sự không hoàn hảo của thị trường. Theo họ, giữa các bên tham gia giao dịch có thể có sự chênh lệch về mức độ nắm giữ thông tin. Tình trạng chênh lệch về thông tin có thể xảy ra từ trước khi giao dịch được bắt đầu, hoặc cũng có thể khi giao dịch bắt đầu diễn ra thì mới xảy ra. Trong trường hợp thứ nhất, thông tin bị che đậy. Còn trong trường hợp thứ hai, hành động của một phía giao dịch bị che đậy. Hậu quả của sự phi đối xứng thông tin theo trường hợp thứ nhất dẫn tới cái gọi là lựa chọn trái ý của phía giao dịch có ít thông tin hơn. Còn hậu quả của sự phi đối xứng thông tin theo trường hợp thứ hai dẫn tới cái gọi là rủi ro đạo đức ở phía giao dịch nhiều thông tin hơn và chê đậy hành vi của mình. Những hậu quả này chính là các thất bại thị trường.

Nguyên nhân

Nguyên nhân của tình trạng phi đối xứng về thông tin, theo Joseph Stiglitz, trước tiên là do những chủ thể kinh tế khác nhau quan tâm tới những đối tượng khác nhau và thông tin của họ khi về cùng một đối tượng sẽ khác nhau. Thường thì các chủ thể kinh tế hiểu mình rõ hơn là hiểu người khác. Mức độ chênh lệch về thông tin tùy thuộc vào cơ cấu, đặc trưng của thị trường.

Phi đối xứng thông tin còn có nguyên nhân nhân tạo. Chủ thể kinh tế tham gia giao dịch có thể cố tính che dấu thông tin để đạt được lợi thế trong đàm phán giao dịch.

Đối phó

Để đối phó với sự phi đối xứng về thông tin, các nhà kinh tế học đã phát triển hai loại biện pháp, một là báo tin, hai là dò tin. Biện pháp báo tin được thực hiện bởi bên có ưu thế thông tin. Còn biện pháp dò tin được thực hiện bởi bên kém ưu thế thông tin.

Các học giả tiêu biểu

Những học giả kinh tế đã đóng góp lớn nhất cho sự phát triển của lý luận về phi đối xứng thông tin là George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz. Ba ông cùng được trao giải Nobel kinh tế học vào năm 2001 vì những đóng góp của mình.

Tham khảo

Những câu chuyện về ô tô và lý thuyết kinh tế

Thứ tư, 28 Tháng hai 2007, 08:14 GMT+7

Nhung cau chuyen ve o to va ly thuyet kinh te

Mang lại lợi nhuận khổng lồ, đương nhiên công nghiệp ô tô cũng là đối tượng nghiên cứu của kinh tế học. Nhưng có một điều ít ai biết là những chiếc ô tô cũng đóng góp cho lý thuyết kinh tế kha khá những ví dụ hay, thậm chí mở đầu cho nhiều nhánh nghiên cứu mới. Đầu năm thử lai rai một chút cho vui.

Câu chuyện về những “quả chanh” và thị trường ô tô cũ

Câu chuyện về ô tô nổi tiếng nhất trong kinh tế học có lẽ là câu chuyện về thị trường ô tô cũ.

Năm 2001, giải Nobel kinh tế được trao cho Arkelof, với hạt nhân là luận văn kinh điển – “The market for lemons” – thị trường của những “quả chanh”. Ấy nhưng cái loại hàng hóa được nhắc đến trong luận văn này không phải là về chanh mà lại về ôtô. Nguyên do là ở chỗ, tiếng lóng của người Mỹ gọi những chiếc xe cũ nát thổ tả là quả chanh (lemon). Và cái thị trường mà luận văn nói đến thực chất là thị trường xe cũ.

Nhung cau chuyen ve o to va ly thuyet kinh te

Thông tin người bán và người mua có

không giống nhau, gọi là tình trạng

bất đối xứng thông tin.

Người bán xe cũ nói chung biết rõ xe của mình tốt xấu ra sao, còn người mua xe thì không. Người ta gọi đó là tình trạng thông tin bất đối xứng.

Cho nên, nếu người mua xe biết giá trị chiếc xe cũ với những thông số như nhãn hiệu, năm sản xuất .v.v. như vậy có giá tối đa là, chẳng hạn 10.000$, tối thiểu là cho cũng không đắt, thì biết rằng giá trị cái xe mình định mua nằm giữa 0 và 10.000$.

Nếu không chắc được giá trị chiếc xe nằm ở khoảng nào, để giảm bớt rủi ro, người mua xe sẽ áng chừng nó ở mức trung bình, chẳng hạn 5.000$.

Nhưng nếu người mua nào cũng đánh giá như vậy, chỉ vì họ không nắm rõ thông tin, thì những người bán xe cũ sẽ có xu hướng loại khỏi thị trường những chiếc xe có giá trên 5.000$.

Còn lại trong thị trường chỉ là những xe có giá trị từ 5.000$ trở xuống. Nhưng người mua xe cuối cùng cũng sẽ nhận ra điều đó, và họ biết trong thị trường bây giờ chiếc xe tốt nhất, có giá trị tối đa chỉ là 5.000$.

Như vậy thì, vì vẫn không biết giá trị từng cái xe một, họ cứ trả giá trung bình là một nửa giá đó, nghĩa là 2.500$. Trước cảnh đó, những người có xe cũ giá trị cao hơn 2.500$ sẽ rút lui, để lại trong thị trường chỉ còn những chiếc xe trị giá từ 2.500$ trở xuống thôi.

Nhung cau chuyen ve o to va ly thuyet kinh te

Những "quả chanh" trong thị trường

ô tô gây bất bình đến mức ở nhiều

bang của Mỹ, như bang California,

có hẳn một luật là Lemon Law để

bảo vệ quyền lợi của những người

mua phải chiếc xe quá "thổ tả".

Cứ tiếp tục như thế, sau cùng sẽ không còn thị trường bán xe cũ nữa vì chỉ còn những chiếc xe tệ hại nhất mà người ta gọi là những "quả chanh".

Câu chuyện trên của Arkelof cho thấy tình trạng bất đối xứng thông tin giữa người mua và người bán làm thị trường suy thoái thế nào. Nó đã mở ra cả một ngành mới trong kinh tế học gọi là kinh tế thông tin và áp dụng giải quyết được vô khối vấn đề thực tế.

Chẳng hạn bạn sẽ hiểu được tại sao một đôi giày không nhãn mác sẽ rẻ hơn rất nhiều lần một đôi giày “hàng hiệu” cho dù kiểu dáng có thể đẹp hơn và chất lượng nhìn qua khó có thể biết đôi nào tốt hơn đôi nào. Cái giá thấp hơn đó chính là bù cho việc thông tin mang lại cho người dùng ít hơn.

Đó cũng là lý do các doanh nhân thường rất thích bỏ tiền mua những chiếc ô tô thật sang trọng. Cũng là một cách “đánh tín hiệu” – cung cấp thêm thông tin đến đối tác về đẳng cấp hay khả năng tài chính của doanh nghiệp mình.

Dây an toàn và tính không thể đoán trước của chính sách

Trong cuốn Kinh tế học nổi tiếng của mình, nhà kinh tế học Paul Samuelson có một câu chuyện kinh điển dẫn chứng cho tính khó lường trước được của chính sách. Nhận thấy tình trạng những người đi xe ô tô bị tử vong rất nhiều vì đập mặt vào phía trước do không thắt dây an toàn, chính quyền ra một quy định bắt buộc những người lái xe phải thắt dây an toàn với hy vọng làm giảm số người chết.

Nhưng sau một thời gian thực hiện quy định này, thì kết quả thật bất ngờ khi con số thống kê cho thấy số lượng tử vong có chiều hướng tăng nhẹ. Giải thích kết quả này ra sao?

Nhung cau chuyen ve o to va ly thuyet kinh te

Quy định về thắt dây an toàn làm giảm
tỉ lệ tử vong nhưng tăng số vụ tai nạn.

Một cuộc điều tra cho thấy nguyên nhân chính là do khi bắt buộc phải thắt dây an toàn, những người lái xe vì vậy lại trở nên chủ quan hơn khi lái xe, nên số vụ tai nạn xảy ra nhiều hơn.

Quy định thắt dây an toàn trên thực tế đã có hiệu lực. Nó làm tỉ lệ tử vong trong các vụ tai nạn giảm. Nhưng vì số vụ tai nạn tăng lên, nên số người tử vong trên thực tế là không giảm.

Câu chuyện trên cho thấy tính khó lường trước của các chính sách. Do vậy khi đưa ra một chính sách cũng như nhận xét về tác động của một chính sách, những người đưa ra ý kiến cần rất thận trọng và nhìn nhận vấn đề dưới nhiều khía cạnh khác nhau.

Chẳng hạn như chuyện đánh thuế nặng lên những chiếc xe đắt. Nhiều người phản đối, nhiều ý kiến chỉ trích cho rằng, điều này làm những chiếc xe đắt càng trở nên đắt hơn. Và như vậy thì những người có mức thu nhập bình thường rất khó có cơ hội mua được những chiếc xe tốt. Tuy nhiên khi phân tích kỹ ra thì thực tế không hoàn toàn như vậy.

Với những chiếc xe thuộc nhóm chịu thuế nặng, nhưng có mức giá gần với mức chịu thuế thấp hơn, thì trong thực tế, nhà sản xuất có xu hướng hạ giá xe xuống để chịu mức thuế thấp hơn. Cho dù khi đó lợi nhuận thu trên mỗi chiếc xe giảm, nhưng mức cầu nhờ vậy lại tăng. Trong khi nếu giữ nguyên mức giá cũ, thì do giá chiếc xe vọt lên, nên lượng cầu với những chiếc xe loại này sẽ giảm, trong khi những nhà sản xuất lại không được hưởng gì từ phần giá tăng thêm do thuế này, do phải nộp lại cho nhà nước.

Những người mua xăng lười nhác và mô hình Hotelling

Có một ví dụ về mô hình hoạt động của thị trường đơn giản mà rất thú vị do nhà kinh tế học Hotelling đề xuất.

Trên một khu phố dài, có hai trạm bán xăng ở hai đầu, ta gọi là trạm xăng Trái và Phải. Và những người đi ô tô trong khu phố đều mua xăng theo nguyên tắc "lười nhác", nghĩa là đi đến trạm bán xăng gần mình nhất.

Như vậy lúc đầu lượng người mua xăng sẽ tương đối đồng đều cho hai trạm bán xăng. Nhưng nói chung những anh chàng chủ trạm xăng sẽ có xu hướng dịch trạm xăng của mình vào giữa khu phố.

Tại sao lại vậy? Rất dễ hiểu. Những chiếc xe đang hoạt động giữa hai trạm xăng sẽ chia đôi cơ hội cho cả hai trạm xăng này, phụ thuộc vào khoảng cách từ nó đến trạm xăng nào gần hơn.

Còn những chiếc xe ô tô không ở giữa hai trạm xăng đương nhiên sẽ chỉ có một lựa chọn duy nhất. Những chiếc xe nằm ở phía trái sẽ đến trạm xăng Trái, và những chiếc xe nằm ở phía phải sẽ đến trạm xăng Phải.

Và do cả hai anh chàng chủ trạm xăng đều muốn tối đa hóa cái khoảng của riêng mình, nên cuối cùng kết cục dẫn đến là cả hai trạm xăng sẽ chập vào một chỗ ở trung tâm khu phố - nơi sẽ phải cạnh tranh nhiều nhất và có lẽ cũng bất hợp lý nhất.

Nhung cau chuyen ve o to va ly thuyet kinh te

Hai anh chàng bán xăng cuối cùng sẽ đẩy cây xăng của mình
chập vào một chỗ
.

Ví dụ trên của Hotelling được đưa ra như một mô hình cho thấy không phải lúc nào thị trường cũng vận hành theo cách hiệu quả nhất, như những nhà kinh tế học chính thống vẫn hằng tin tưởng.

T.T.V

Milton Friedman Quotes:

Milton Friedman Quotes:

"The most important single central fact about a free market is that no exchange takes place unless both parties benefit."

"Nobody spends somebody else's money as carefully as he spends his own. Nobody uses somebody else's resources as carefully as he uses his own. So if you want efficiency and effectiveness, if you want knowledge to be properly utilized, you have to do it through the means of private property."

"Governments never learn. Only people learn."

"So the question is, do corporate executives, provided they stay within the law, have responsibilities in their business activities other than to make as much money for their stockholders as possible? And my answer to that is, no they do not"

"The only way that has ever been discovered to have a lot of people cooperate together voluntarily is through the free market. And that's why it's so essential to preserving individual freedom."

"Most economic fallacies derive - from the tendency to assume that there is a fixed pie, that one party can gain only at the expense of another."

"Underlying most arguments against the free market is a lack of belief in freedom itself."

"What kind of society isn't structured on greed? The problem of social organization is how to set up an arrangement under which greed will do the least harm; capitalism is that kind of a system"

"History suggests that capitalism is a necessary condition for political freedom. Clearly it is not a sufficient condition."

"The society that puts equality before freedom will end up with neither. The society that puts freedom before equality will end up with a great measure of both."Milton Friedman Quotes:

Tạm biệt Milton Friedman, lý thuyết gia về thị trường tự do

Thứ tư, 22 Tháng mười một 2006, 16:30 GMT+7

Ngày 16/11 tại San Francisco, nhà kinh tế học lỗi lạc Milton Friedman, ông tổ của lý thuyết kinh tế thị trường tự do thời hậu chiến và là động lực chính để các quốc gia chuyển sang dựa nhiều hơn vào trách nhiệm cá nhân thay vì nhà nước, đã qua đời ở tuổi 94.


Các đồng nghiệp thuộc trường phái bảo thủ hay tự do đều xem ông Friedman, người đã đoạt giải Nobel như một trong những học giả kinh tế hàng đầu của thế kỷ 20, sánh ngang với những cây đại thụ trong lĩnh vực kinh tế như John Maynard Keynes và Paul Samuelson.

Theo Chủ tịch Cơ quan Dự trữ Liên bang Ben S. Bernanke thì “trong những học giả kinh tế cùng thời thì Milton Friedman không có đối thủ. Tư duy của ông có những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp vô cùng to lớn lên ngành kinh tế học tiền tệ đương đại.”

Hai ngày trước khi Friedman mất, cựu Chủ tịch Cơ quan dự trữ liên bang Mỹ Alan Greenspan, đã nói về Friedman như sau: “Nhìn từ quan điểm dài hạn, chính những thành tựu hàn lâm của ông ta sẽ có ý nghĩa lâu dài. Nhưng tôi cũng không phủ nhận tác động sâu sắc mà ông ta đã tạo ra lên quan điểm của người dân Mỹ”.

Theo Greenspan, Friedman đã xuất hiện đúng lúc khi mà sự đồng thuận giữa các nhà kinh tế về lý thuyết của Keynes, vốn rất có tác dụng từ thập niên 30, đã không thể lý giải tình trạng đình trệ kèm lạm phát của thập niên 1970.

Nhưng Greenspan cũng cho rằng Friedman đã nêu ra một lập luận chính trị phổ biến hơn, đó là: phải có tự do kinh tế thì mới có tự do chính trị.

Một nhà vô địch theo chủ nghĩa tự do

Tam biet Milton Friedman ly thuyet gia ve thi truong tu do

1Milton Friedman - nhà kinh tế học lỗi lạc, ông tổ của lý thuyết kinh tế thị trường tự do thời hậu chiến và là động lực chính để các quốc gia chuyển sang dựa nhiều hơn vào trách nhiệm cá nhân thay vì nhà nước. (Ảnh: Ideachannel.com)

Là một người theo chủ nghĩa tự do, Friedman vận động hợp pháp hóa các loại thuốc gây nghiện và phản đối công khai nền giáo dục công cộng và quyền lực của nhà nước trong việc cấp giấy phép cho bác sĩ, lái xe và các ngành nghề khác. Chính những quan điểm này đã khiến ông bị chỉ trích, nhưng Friedman vẫn không lung lay, ông lý luận rằng, việc cấm đoán, điều tiết hay cấp phép cho hành vi con người sẽ không có hiệu quả hoặc sẽ tạo ra những bộ máy quan liêu phi hiệu quả.

Friedman luôn cho rằng sự cạnh tranh tư nhân không bị ràng buộc sẽ tạo ra kết quả tốt hơn so với các hệ thống nhà nước. Khi bị cáo buộc là đã đi quá trớn với quan điểm chống sự can thiệp của nhà nước, ông nói “thế hệ nào cũng vậy, phải có một ai đó đi hết con đường, và đấy là lý do mà tôi tin tôi đang làm”.

Bất kể bị xem như là một kẻ ngoại đạo kinh tế, Friedman đã dự báo trong thập niên 60 rằng sự bùng nổ sắp kết thúc trước mắt. Ông dự kiến thất nghiệp sẽ tăng, và đồng thời lạm phát cũng tăng. Dự báo này đã trở thành hiện thực vào thập niên 70. Chính Paul Samuelson đã gọi hiện tượng này là đình trệ kèm lạm phát.

Sự phân tích và dự báo của Friedman được xem như một thành tựu tri thức đáng kinh ngạc, và đã góp phần giúp ông đoạt giải thưởng Nobel cho các lý thuyết tiền tệ của mình. Ông cũng được trích dẫn nhờ những phân tích về tiết kiệm của người tiêu dùng và nguyên nhân của thời kỳ Đại Khủng hoảng: ông chỉ trích Cơ quan dự trữ liên bang, cáo buộc cơ quan này đã đưa ra chính sách tiền tệ tồi và cho rằng họ đã không tận dụng được những cơ hội khôi phục từ rất sớm. Kể từ đó danh tiếng của Friedman và của Trường Chicago nổi như cồn, và phân tích của ông về thời kỳ khủng hoảng đã thay đổi cách tư duy về chính sách tiền tệ của Fed. Ngay cả các nhà lãnh đạo như Tổng thống Ronald Reagan và Thủ tướng Anh Margaret Thatcher cũng đã bị ảnh hưởng rất nhiều bởi quan điểm của ông.

Nhờ “cơ may”

Milton Friedman sinh ra ở Brooklyn ngày 31/07/1912, là con út và con trai duy nhất trong gia đình có bốn người con của ông Jeno S. Friedman và bà Sarah Landau Friedman. Cha mẹ ông sau một thời gian ngắn làm việc trong các xưởng sản xuất tồi tàn, đã chuyển gia đình đến Rahway, N.J., ở đây họ mở một cửa hàng bán quần áo.

Cha của Friedman mất khi ông đang học năm cuối ở trường Trung học Rahway. Chàng trai Milton sau đó đã đi làm bồi bàn và phụ việc trong các cửa hàng để kiếm tiền phụ thêm cho suất học bổng mà ông đã giành được tại Đại học Rutgers. Ông vào Rutgers năm 1929, năm mà thị trường chứng khoán sụp đổ và Giai đoạn Suy thoái bắt đầu.

Friedman cho rằng sự thành công của ông là do “cơ may” mà ra: Việc cha mẹ ông di cư ở tuổi thiếu niên khỏi Czechoslovakia (Tiệp Khắc), giúp ông trở thành một người Mỹ chứ không phải là công dân của một quốc gia thuộc khối Xô Viết; kỹ năng của một giáo viên hình học ở trung học, người đã chỉ cho ông biết sự kết nối giữa bài thơ ca ngợi chiếc bình sứ Hy Lạp (Ode to a Grecian Urn) của nhà thơ Keats với định lý Pythagore, giúp ông thấy được vẻ đẹp của toán học; việc nhận được suất học bổng giúp ông vào Đại học Rutgers nơi có hai giảng viên tên Arthur F. Burns và Homer Jones.

Friedman nói thầy Burns, sau này trở thành chủ tịch Cơ quan dự trữ liên bang, đã khơi gợi trong ông nỗi đam mê về sự toàn vẹn khoa học và tính chính xác của kinh tế học; Còn thầy Jones, lúc đó dạy ở Rutgers trong khi theo đuổi chương trình tiến sĩ tại Đại học chicago, đã khiến cho Friedman chú ý đến chính sách tiền tệ và sự nghiệp tại trường cao học Chicago sau này.

Lớp học định mệnh trên tại Đại học Chicago cũng đưa Friedman đến với giáo sư Jacob Viner, người được xem là nhà lý thuyết và là nhà sử học lớn về tư duy kinh tế. Giáo sư Viner đã thuyết phục Friedman rằng lý thuyết kinh tế không nhất thiết là một tập hợp các định đề rời rạc, mà có thể được phát triển thành định hướng hành động lô-gíc và liền lạc.

Friedman giành được học bổng làm tiến sĩ tại Columbia, nơi chú trọng vào số liệu thống kê và bằng chứng thực tiễn. Ông học cùng với Simon Kuznets, một người Mỹ đoạt giải Nobel khác. Hai người đã biến luận án của Friedman thành cuốn sách có tựa đề “Thu nhập từ việc hành nghề chuyên môn độc lập”. Đây là cuốn sách đầu tiên trong số hơn mười cuốn mà Friedman đã viết một mình hoặc viết cùng với người khác.

Trong suốt hai năm đầu của Thế Chiến thứ II, Friedman là chuyên gia kinh tế của Vụ Thuế khóa thuộc Bộ Tài chính. Sau chiến tranh, Friedman trở lại Đại học Chicago, trở thành giáo sư thường trực vào năm 1984 và bắt đầu chiến dịch chống trường phái kinh tế học Keynes.

Được mệnh danh là người bài xích ý tưởng cũ, Friedman đã nói đúng về vấn đề kinh tế lớn lúc bấy giờ, đó là lạm phát. Và kiến nghị của ông, yêu cầu các thống đốc của hệ thống dự trữ liên bang giữ cung tiền tăng đều đặn mà không có biến động lớn – đã trở thành một phần quan trọng trong tư duy của các nhà hoạch định chính sách kinh tế trên thế giới trong thập niên 1980.

Nổi lên dưới thời Reagan

Nhưng sau giai đoạn đình trệ kèm lạm phát của những năm 1970, khi các công cụ của Keynes dường như đã tan vỡ hoặc lỗi thời, đặc biệt với sự đắc cử của Reagan vào Nhà Trắng, thì thời của Friedman đã đến. Sức mạnh và ảnh hưởng của ông đã được ghi nhận và chào đón ở Washington.

Cùng với vợ, bà Rose Director Friedman, năm 1978 ông tung ra cuốn sách được nhiều người quan tâm và bán chạy nhất tựa đề “Tự do chọn lựa”, và bắt đầu chuyến đi kéo dài 18 tháng, từ Hồng Kông qua Ottumwa, Iowa, để diễn thuyết rằng sự điều tiết và can thiệp của nhà nước chính là nguyên nhân đè nén xã hội hiện đại. Chuyến lưu giảng này đã trở thành nội dung chính và Friedman trở thành ngôi sao của loạt chương trình truyền hình cùng tên gồm 10 phần của đài PBS vào năm 1980.

Năm 1983, Friedman thôi giảng dạy và trở thành viện sĩ Viện Hoover tại Đại học Stanford. Năm năm sau ông được trao tặng Huân chương Tự do của Tổng thống và Huân chương Khoa học Quốc gia.

Theo giáo sư Friedman, sự phát triển kinh tế những năm 80 là nhờ chính quyền Reagan giảm thuế suất và nới lỏng các qui định. Nhưng con nước lại đổi dòng. Ông cho rằng sự tăng trưởng này đã ngưng trệ khi Tổng thống George H. W. Bush áp dụng tăng thuế “đi ngược lại thời kinh tế Reagan”.

Vấn đề trở nên xấu đi vào giữa thập niên 80 khi ngành tài chính ngân hàng bắt đầu trải qua sóng gió và tiền bắt đầu chuyển dịch ngoài dự tính, những dự báo tiền tệ của riêng Friedman về điều gì sẽ xảy ra cho nền kinh tế và lạm phát khi cung tiền gia tăng, đã không còn đúng. Sự tin tưởng vào lý thuyết tiền tệ của ông đã giảm dần.

Tuy nhiên, Friedman vẫn là ánh sáng dẫn đường cho những người theo phe bảo thủ ở Mỹ. Chẳng hạn chính ông đã tạo ra nền tảng lý thuyết kinh tế đằng sau “những hướng dẫn hành động” như trên, mà theo như ông thầy một thời của Friedman, giáo sư Jacob Viner đã nói thì giống như sự chiến thắng áp đảo của Đảng Cộng hòa trong đợt bầu cử Quốc hội 1994.

Đã từ lâu Friedman không còn bị gọi là kẻ ngoại đạo. W. Allen Wallis, bạn cùng lớp và sau này là là đồng nghiệp của Friedman tại Đại học chicago nói “điều thật sự quan trọng về ông là sự hiểu biết vô cùng căn cơ của ông, tài năng và sự kiên trì – đó là cách ông đi đến tận cùng của vấn đề, để nhìn chúng theo một hướng mới.”

Hoàng Nhi (Lược dịch từ bài viết của HOLCOMB B. NOBLE)
Việt Báo

THÔNG TIN VÀ ĐỘNG CƠ: Nền Kinh Tế của những củ cà rốt và cây gậy (phần 6)

Giả sử rằng khả năng của mỗi cá nhân có liên quan chặt chẽ đến khả năng trong tương lai. Hãy xem xét một mô hình trong đó mức lương của mỗi người đều như nhau trong suốt quãng thời gian làm việc. Một số hệ thống thuế khuyến khích cạnh tranh áp dụng cho thu nhập năm đầu tiên. Mọi người quyết định mức độ nặng nhọc của lao động, và làm công việc gì: một số người đạt được mức thu nhập cao, và số khác có thu nhập thấp. Nếu như theo lý thuyết, những người có mức tiền lương cao sẽ chọn mức thu nhập cao. Năm tiếp theo, chính phủ biết được mức thu nhập của những người đó trong năm vừa qua, và do đó có thể suy ra mức lương của họ. Lúc đó, chính phủ có thể đánh thuế trên cơ sở mức lương hơn là thu nhập, điều đó cũng có thể nói rằng dựa trên đặc điểm của người tiêu dùng. Chúng ta không cần phải lo lắng về sự khuyến khích, đặc biệt là trong giai đoạn hiện tại. Thuế có thể được xác định một cách độc lập so với thu nhập thực tế, và chỉ có liên quan đến mức lương (đã quan sát trên cơ sở hoạt động của kỳ trước). Tại điểm biên, sự khuyến khích là tối ưu. Trên thực tế, những khoản thuế liên quan đến mức lương tạo thành tổng mức thuế, và nó có thể cao đối với người có thu nhập cao, và thấp, thậm chí âm đối với người có thu nhập thấp. Và thực tế đã chứng minh rằng đây là một mô hình hợp lý, người có thu nhập thấp sẽ có thuận lợi hơn người có thu nhập cao.
Nếu điều đó xảy ra trong năm thứ hai, những người ở trong năm đầu tiên sẽ có thể quyết định họ sẽ kiếm tiền không đủ để bị cho là có mức lương cao. Họ có thể chọn mức thu nhập giống nhau. Năm thứ hai, chính phủ không thể xác định được các mức lương, và mọi thứ sụp đổ. Hy vọng cho một sự tối ưu đã mô tả không phải là một hệ cân bằng. Có một hệ cân bằng mà trong đó không ai làm gì cả, nhưng điều đó hoàn toàn không thoả mãn. Vấn đề là trong năm thứ hai, chính phủ sẽ trở nên cực đoan nếu hành động như đã mô tả. Có thể dự đoán được rằng ứng xử cực đoan đó của chính phủ sẽ dẫn đến rắc rối. Cái mà chúng ta có là một tình huống đặc biệt tồi tệ của sự không phù hợp tạm thời. Nếu chính phủ có thể tự cam kết trước rằng sẽ áp dụng cho những nhóm đó trong tất cả các năm trong tương lai, chúng ta có thể quay lại hệ cân bằng tốt thứ nhì đã mô tả như trong hệ thống thuế tối ưu. Có thể sự việc sẽ xảy ra tốt hơn thế. Vấn đề là chính phủ không hề, ở một mức độ đáng kể, tự cam kết về tỷ suất thuế trong tương lai, và thực tế không dễ dàng làm như vậy; và do đó vấn đê đã nói không phát sinh. Bằng cách chấp nhận một điều cho rằng những người sinh ra ở các thời điểm khác nhau đều chịu một hệ thống thuế như nhau, chính phủ cần có một đảm bảo, ở một mức chi phí để từ bỏ những cơ sở mong muốn đối với sự phân biệt thuế.
Có thể mọi người sẽ không nói rõ ra. Giống như một người bắt đầu suy nghĩ làm thế nào để đi lại, chúng ta sẽ đưa mình vào nhiều rắc rối khi suy nghĩ. Chúng ta gặp cùng một vấn đề mà Kydland và Prescott (1977) đã xác định trong chính sách kinh tế vĩ mô. Trong chính sách kinh tế vĩ mô, chúng ta không coi nó là nghiêm túc. Có một rắc rối không rõ ràng ở đây, có lẽ là trong vấn đề hệ thống thuế đối với tài sản.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Armstrong, C.M. (1996) Định giá phi tuyến đa sản phẩm, Kinh tế toán, 64,51-76.
Arrow, K.J. (1963) Sự không chắc chắn và kinh tế học phúc lợi của chăm sóc y tế. Tạp chí kinh tế Hoa Kỳ, 53, 941-69.
Atkinson, A.B. và Stiglitz, J.E. (1976) mô hình của cấu trúc thuế: hệ thống thuế trực tiếp chống lại hệ thống thuế gián tiếp, Tạp chí Kinh tế Cộng đồng, 6, 55-57.
Baron, D và Myerson, R. (1982) điều chỉnh một nhà độc tài với chi phí chưa biết. Kinh tế toán học, 50, 911-30.
Boiteux, M. (1956) Kinh tế toán học
Christiansen, V. (1981) đánh giá các dự án công cộng trong hệ thống thuế tối ưu, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, 48, 447-457.
Diamond, P.A. và Mirrless, J.A. (1971) Hệ thống thuế tối ưu và sản xuất công cộng I và II, Tạp chí Kinh tế Hoa Kỳ, 61, 8-27 & 261-278.
Diamond, P.A. và Mirrless, J.A. (1977) Một mô hình của chế độ bảo hiểm xã hội cho hưu trí, Tạp chí Kinh tế Cộng đồng, 10, 295-336.
Graaff, J. de V. (1957) Lý thuyết Kinh tế học Phúc lợi, Nhà xuất bản Đại học Cambridge.
Holmström, B. và Milgrom, P.R. (1977) Sự tổng hợp và tuyến tính trong quy định của khuyến khích tạm thời, Kinh tế toán học, 55, 303-328.
Kolm, S. C., (1971), Lý thuyết về sự hạn chế của giá trị và ứng dụng của nó, Paris: C.N.R.S. Dunod.
Kydland, F.E. và Prescott E.C. (1977) Quản lý còn hơn là thả nổi: sự không phù hợp của kế hoạch tối ưu, Tạp chí kinh tế chính trị, 85 (3).
Laffont, J-J, và Tirole, J. Lý thuyết về Sự khuyến khích trong Mua sắm và Quy chế. Cambridge Mass.: M.I.T .
Little, I.M.D. (1950) Phê phán về Kinh tế học Phúc lợi, Oxford: Nhà xuất bản Clarendon.
Maskin, E (1985) Lý thuyết của việc thực hiện trong cân bằng Nash, Hurwicz, Schmeidler và Sonnenschein (nhiều tác giả). Những mục tiêu xã hội và tổ chức xã hội, Nhà xuất bản Đại học Cambridge.
Mirrlees, J.A (1971), Tìm hiểu về lý thuyết của hệ thống thuế thu nhập tối ưu. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, 38, 175-208.
Mirrlees, J.A (1974) Những lưu ý về kinh tế học phúc lợi, thông tin và sự không chắc chắn. trong M. Balch, D. McFadden và S. Wu (nhiều tác giả), Tiểu luận về Cư xử Cân bằng trong Sự không chắc chắn, Amsterdam: Bắc Hà Lan.
Mirrlees, J.A (1975) Lý thuyết của rủi ro đạo đức và cư xử không nhìn thấy được, Đại học, Nuffield, Oxford. Tạp chí nghiên cứu kinh tế.
Mirrlees, J.A (1976) Cấu trúc tối ưu của sự khuyến khích và quyền lực trong một tổ chức, Tạp chí Kinh tế Bell, 7, 105-31.
Mirrlees, J.A (1986) Lý thuyết của hệ thống thuế tối ưu. Trong K.J Arrow và M.D Intriligator (nhiều tác giả), Cẩm nang kinh tế toán học, Tập III, Amsterdam: Bắc Hà Lan
Mirrlees, J.A (1995) Kinh tế học phúc lợi và quy mô của nền kinh tế. Tạp chí Kinh tế Nhật Bản, số. 46, 38-62.
Pauly, M. (1985) Nền kinh tế của rủi ro đạo đức: Bình luận. Tạp chí Kinh tế Hoa Kỳ, 58, 531-6.
Phelps, E.S. (1973) Hệ thống thuế của mức lương để bình đẳng kinh tế. Tạp chí Kinh tế hàng quý, 87, 331-354.
Piketty, T. (1993) Việc thực hiện sự phân bổ bậc nhất thông qua biểu thuế được tạo ra, Tạp chí Lý thuyết Kinh tế học, 61, 23-41.
Ramsey, F.P. (1927) Một đóng góp cho hệ thống thuế. tạp chí kinh tế, 37, 47-61.
Rogerson, W. (1985) Phương pháp hàng đầu cho vấn đề người uỷ thác-người đại lý. Kinh tế toán học, 53, 1357-1368.
Sadka, E. (1976) Về phân phối thu nhập, những hiệu ứng khuyến khích và hệ thống thuế thu nhập tối ưu. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, 43, 261-268.
Spence, M. (1973) Tín hiệu của thị trường lao động. Tạp chí Kinh tế hàng quý, 87, 355-374.
Tuomala, M. (1990) Thuế Thu nhập Tối ưu và Sự phân phối lại, Oxford: Nhà xuất bản Clarendon.
Varian, H.R. (1980) Phân phối lại thuế như là bảo hiểm xã hội, Tạp chí Kinh tế Cộng đồng, 14, 49-68.
Vickrey, W.S. (1954) Xác định thoả dụng biên bằng những phản ứng đối với rủi ro. Kinh tế toán học, 13, 319-333.
Wilson, R. (1993) Định giá Phi tuyến, Nhà xuất bản Đại học Oxford.

[1] Có rất nhiều cách để mở rộng tỷ lệ, được thảo luận trong Tập Mirrlees (1995), và tác phẩm được chỉ ra trong đó.
[2] Một vấn đề được thảo luận, một cái gì đó giống hình elip, trong Vickrey (1945), và nghiên cứu đó đã dẫn đến mô hình về sự phân phối lại của hệ thống thuế được thảo luận ở phần sau của tác phẩm này.
[3] Lý thuyết chúng tôi đã phát triển cuối cùng được xuất bản trong hai nghiên cứu, Diamond và Mirrlees (1971)
[4] Michael Spence (1973) đã sử dụng điều kiện này cho những mô hình của thị trường với thông tin không đối xứng
[5] Tất cả những điều này được xác lập trong Mirrless (1971), trong khi sự chứng minh toán học đầy đủ (trong một nghiên cứu thảo luận của trư ờng Đại học Nuffield, Oxford), xuất hiện duy nhất trong tác phẩm của Mirrless (1986)
[6] Tuomala (1990)
[7] Một vài vấn đề ở đây được nghiên cứu trong Mirrlees (1976)
[8] Xem Arrow (1963), người cũng đã nói về thông tin không cân xứng; và Pauly (1986).
[9] Như là mô hình đã được Varian kiểm nghiệm (1980), nhưng thảo luận của tôi sẽ chủ yếu là một sự giải thích cho bối cảnh hiện tại trong một phần của tập Mirrlees (1974).
[10] Mirrlees (1975)
*** TQ hiệu đính: Kinh Tế như là một hệ thống thưởng và phạt.



THÔNG TIN VÀ ĐỘNG CƠ: Nền Kinh Tế của những củ cà rốt và cây gậy (phần 5)

HỆ THỐNG THÔNG TIN KHÔNG CÂN XỨNG
Mô hình thuế mà chúng ta đang xem xét chỉ là một trường hợp trong đó tồn tại sự không đối xứng về thông tin giữa cơ quan nhà nước (chính phủ) và tác nhân hoặc những tác nhân (người tiêu dùng). Những cá nhân người tiêu dùng biết nhiều về năng lực của họ hơn là chính phủ. Chính phủ có thể tự nghĩ rằng họ đang làm việc với đại diện của người tiêu dùng, nhưng không biết loại người tiêu dùng đó. Có nhiều quan hệ kinh tế thuộc về quan hệ uỷ thác/đại lý, đặc biệt là quan hệ người sử dụng/người lao động. Phương pháp phân tích mà tôi đã nêu ra được áp dụng khi hoạt động của người đại lý có thể quan sát được và có thể xác định được, nhưng người đại lý biết nhiều hơn người uỷ thác, ví dụ như mối quan hệ giữa nỗ lực không thể quan sát được và hoạt động. Adam Smith đã biết rằng có một vấn đề (mặc dù ông không đề cập đến một cách rõ ràng sự không chắc chắn tạo ra một khả năng lẩn tránh):
Điều thú vị là mọi người cố gắng sống theo điều kiện của mình một cách tốt nhất có thể ; và nếu mức lương của anh ta giống nhau một cách chính xác, liệu rằng anh ta có, hoặc không có thực hiện một số trách nhiệm lao động, đó ch ắcn ch ắn là lợi ích của anh ta, ít nhất đó là thứ lợi ích được hiểu một cách tầm thường, hoặc nếu anh ta có một số thẩm quyền khiến anh ta không phải làm điều đó, thực hiện nó một cách bất cẩn và cẩu thả mà thẩm quyền đó cho phép. (Sự giàu có của các Quốc gia)
Có người nghĩ rằng anh ta quá không quan tâm đến hệ thống khuyến khích tiền tệ, nhưng cần nhớ rằng thẩm quyền có thể là một sự mô tả tốt về mối quan hệ đó. Hệ thống thanh toán tối ưu, với thông tin không đối xứng, có thể có đặc điểm độc đoán, nếu nó chỉ ra rằng việc thanh toán tăng lên rất nhanh tương ứng với mức độ của các nhóm mức lương, và chậm đi với nhóm thu nhập thấp, và không tăng lên nhiều lắm với nhóm có thu nhập cao. Điều đó gần giống với nguyên tắc sau đây: Làm cái này hoặc cái kia. Đó là một đặc điểm thú vị của những đường được cho là tối ưu trong vấn đề thuế thu nhập là tiêu dùng không bao giờ tăng nhanh hơn thu nhập (tương đương với, tỷ suất thuế biên không bao giờ âm). Khả năng có thể nhất, một mối quan hệ khó khăn không bao giờ trở thành tối ưu trong thực tế với thông tin không cân đối. [7]
Quan hệ lao động phát sinh những khả năng thú vị mới, như là việc thanh toán liên quan đến hoạt động của những người khác. Sẽ không đáng để làm việc nếu hai người hoàn toàn không liên quan đến nhau, trong đó khả năng của họ cũng không tương xứng. Khi họ tương xứng với nhau, và các tác nhân này lại không kết hợp được với nhau, có một phạm vi thực tế cho việc thanh toán tuỳ thuộc vào mức độ của quan hệ hoạt động của các tác nhân.
Chúng ta có thể không chờ đợi chính phủ ban hành những loại thuế, mà điều đó lại phụ thuộc vào thu nhập của những người hàng xóm của chúng ta (hoặc những đối thủ cạnh tranh rất xa) cũng như vào thu nhập của chúng ta. Nhưng những khả năng đó đã đóng một vai trò quan trọng trong một mô hình phát triển hơn so với mô hình đơn giản với thông tin không đối xứng như đã mô tả ở trên. Các tác nhân có thể được yêu cầu lựa chọn giữa những thông tin phức tạp hơn là những gì chúng ta sử dụng để mô tả hoạt động đơn giản hoặc thu nhập của họ. Maskin (1985) đã đưa ra ý tưởng về việc yêu cầu mọi người tự đặt mình vào việc phân phối toàn bộ khoản lương, trong khi phải đối diện với những yếu tố có tính trừng phạt một cách nghiêm khắc đối với bất kỳ câu trả lời không phù hợp nào. Bằng cách đó, ông có thể thực tiến hành được sự tối ưu đầu tiên. Lý thuyết đó thực sự đòi hỏi thông tin giữa những tác nhân, nhưng Piketty (1993) đã phát triển một phương thực dễ chấp nhận hơn để đạt được sự tối ưu tốt nhất cũng nằm trong phạm vi ý tưởng đã được đưa ra. Mô hình đơn giản của khuyến khích cạnh tranh không hề làm giảm đi cơ chế khuyến khích có thể trong hoàn cảnh của thông tin không đối xứng.
Trong số những ứng dụng ở lĩnh vực khác của thông tin không đối xứng là việc kiểm soát những tập đoàn bởi những người cầm quyền (người quản lý nhà nước, ban hành luật), và định giá bằng những sự thoả dụng. Trong từng hướng phát triển thú vị đó, trước hết là Baron và Myerson (1982), và sau đó là Laffont và Tirole (1993) đã chỉ ra làm thế nào một người có thể phân tích sự điều chỉnh bằng cách bằng cách xem các tập đoàn (doanh nghiệp) như là những tác nhân (đại lý), những người biết được cơ cấu vốn của doanh nghiệp đó, và những người cầm quyền, người không chắc chắn về những chi tiêu của doanh nghiệp, người không chắc chắn về chi phí của doanh nghiệp. Sản phẩm của doanh nghiệp và giá cả mà doanh nghiệp đó đặt ra đối với những sản phẩm đó liên quan đến nhu cầu của thị trường, và đó là thông tin công khai. Một cách để suy nghĩ về sự điều chỉnh là phải có thuế về sản phẩm thay đổi. Điều này có thể được phân tích bằng cách sử dụng những phương pháp mà tôi đã nêu ra.
Tương tự, những thoả dụng cũng làm cho người tiêu dùng thay đổi những ưu tiên, và có thể liên kết giá cả với số lượng được sử dụng theo một cách thức phức tạp. Như trong mô hình điều chỉnh, có rất nhiều sản phẩm, và một người sẽ xem xét việc định giá đồng bộ của tiêu dùng tại các thời điểm khác nhau. Điều này thực sự khó khi sở thích của người tiêu dùng thay đổi một cách phức tạp, đa chiều. Phương pháp đơn giản mà tôi đã mô tả trở nên kém hiệu quả khi áp dụng vào những vấn đề đa chiều như thế, nhưng Wilson (1993) và Armstrong (1996) đã tạo nên một tiến bộ đáng kể trong việc giải quyết những vấn đề như thế này.
Trong tất cả những phạm vi ứng dụng này, chiều thời gian đóng vai trò quan trọng. Quay trở lại vấn đề hệ thống thuế, có thể thấy được những vấn đề mới và rắc rối nảy sinh. Chúng ta có thể nghĩ về việc đánh thuế theo từng thế hệ, hoặc những nhóm người, theo cách phù hợp với họ. Mỗi thế hệ, mỗi tầng lớp sẽ có phần đóng góp của mình, nhưng chúng ta có thể xác định được rõ ràng năm sinh, và sử dụng nó làm cơ sở để đánh thuế. Do đó, về mặt lý thuyết chúng ta có thể xem như có một hệ thống thuế khác nhau cho mỗi nhóm. Các chính phủ không làm như vậy, và tôi sẽ quay trở lại vấn đề tại sao và chúng ta có nên chấp nhận chỉnh phủ làm như vậy.