Triết lý sống

Phàm làm việc gì trước phải suy xét đến hậu quả của nó
Hành động của người quân tử là giữ tĩnh lặng để tu thân, cần kiệm để dung dưỡng đức độ. Không đạm bạc thì không thể có trí tuệ sáng suốt, không yên tĩnh thì không có chí vươn xa. Học thì phải cần yên tĩnh, muốn có tài năng phải học; không học thì không biết rộng, không có chí thì việc học không thành.

Mong muốn lan man thì không thể nảy sinh cái tinh túy, vội tìm cái hiểm hóc thì không nắm được cái thực tình. Thời gian tuổi tác qua nhanh, ý chí cùng ngày tháng trôi đi trở thành khô héo, phần lớn không tiếp cận được với thời đại, rồi buồn tủi nơi lều nát, sao còn khôi phục lại kịp cái chí hướng được nữa !

Wednesday, March 3, 2010

KÌNH ĐÀ CÓ PHẢI LÀ SÁT TINH?


Đăng ngày: 19:22 01-05-2009

Bài viết ngày 1 tháng 5 của Bửu Đình

KÌNH DƯƠNG luôn đứng trước LỘC TỒN. ĐÀ LA luôn đứng sau LỘC TỒN. Do đó KÌNH không đóng các cung Dần Thân Tị Hợi, ĐÀ không đóng các cung Tý Ngọ Mão Dậu.

KÌNH DƯƠNG, ĐÀ LA gọi tắt là bộ KÌNH ĐÀ. KÌNH còn được gọi là NHẬN, NHẪN, DƯƠNG NHẬN hoặc DƯƠNG NHẪN bị xếp vào nhóm SÁT TINH. Bài viết hôm nay nhằm chứng minh KÌNH ĐÀ không nên gọi là Sát Tinh.

Đối với nam ĐÀ luôn luôn nhị hợp, lục hội với bộ Binh Tướng.

Đối với nữ ĐÀ luôn luôn nhị hợp, lục hội với bộ Thanh Phù.

Đối với nam KÌNH luôn luôn nhị hợp, lục hội với bộ Liêm Sỉ (BÁC SỸ, PHI LIÊM) hoặc bộ Thanh Phù.

Đối với nữ KÌNH luôn luôn nhị hợp, lục hội với bộ Binh Tướng, hoặc Liêm Sỹ.

PHÂN LOẠI KÌNH ĐÀ:

Nếu không loại 2 sao nầy ta sẽ gặp khó khăn khi luận đoán. KÌNH ĐÀ đi với các sao hàng chi

* Có THÁI TUẾ đồng cung hay tam hợp. Gọi là KÌNH THÁI (ĐÀ THÁI) thiên về thái độ chống đối…

* Có THIÊN HƯ TUẾ PHÁ đồng cung hay tam hợp. Gọi là KÌNH HƯ (ĐÀ HƯ) thiên về chống đỡ với khó khăn hoàn cảnh, công việc.

Nếu có KÌNH THÁI tất ĐÀ lại gặp HƯ và ngược lại.(tức ĐÀ THÁI, KÌNH HƯ). Chú ý trường hợp KÌNH, ĐÀ có PHƯỢNG CÁT.

* Có ĐÀO HOA KIẾP SÁT đồng cung hay tam hợp. KÌNH ĐÀO (ĐÀ ĐÀO) thiên về tranh giành, vui mừng, đắc ý…

* Có THIÊN HỈ đồng cung hay tam hợp. KÌNH HỈ (ĐÀ HỈ) thiên về vui mừng hãnh diện, đắc ý, khen ngợi…

Nếu có KÌNH ĐÀO KIẾP tất có ĐÀ HỈ và ngược lại. Chú ý KÌNH ĐÀ có KIẾP SÁT.

* Có HỒNG LOAN đồng cung hay tam hợp KÌNH HỒNG (ĐÀ HỒNG) thiên về dâm tính, ồn ào... Nếu có KÌNH HỒNG tất gặp ĐÀ HỈ.

Bốn nhóm đó lại nằm trong 2 bộ cơ bản là ĐÀ LỰC SỸ, hoặc KÌNH LỰC SỸ và ĐÀ QUAN PHỦ hoặc KÌNH QUAN PHỦ. Có nghĩa khi có ĐÀ LỰC tất có KÌNH PHỦ. Khi có KÌNH LỰC tất có ĐÀ PHỦ.

Nếu phân loại tỉ mỉ ta có 30 dạng KÌNH ĐÀ khác nhau. Đơn giản hóa và dễ hiểu ta có 4 dạng KÌNH ĐÀ. Chú ý trong 4 dạng đó có hay không có PHƯỢNG CÁC và KHÔI VIỆT.

Và để hiểu rõ KÌNH ĐÀ là gì? Người viết đã từng viết bài mở đầu ‘Chống ai? Theo ai?’, và ‘Nhịp đời qua lá số’, ‘Hồn lỡ sa vào đôi mắt em’. Đó là bài viết có tính chất làm quen, mở đường xông trận.

LUẬN ĐOÁN CÁC CHI TIẾT SAU:

KÌNH chủ: DẬY LÊN, PHẤT LÊN, DƯƠNG LÊN, TĂNG LÊN, DỰNG LÊN, THĂNG, ĐƯA LÊN…ĐÀ chủ: HẠ XUỐNG, ĐƯA XUỐNG, THẤP XUỐNG, GIẢM XUỐNG, HẠ, ĐƯA XUỐNG

Nhịp đời qua lá số là đây. Từ KÌNH cuộc đời đi lên, qua LỘC TỒN chủ tồn tại, đến ĐÀ đi xuống, thấy PHỤC BINH hồi phục lại, ta lại gặp lại KÌNH rồi lại đi lên. Đó là chu kỳ nghịch. Chu kỳ thuận là từ ĐÀ cuộc đời dưới thấp (như hạ lưu trong xã hội) tồn tại với LỘC TỒN, rồi vươn lên khi có KÌNH thấy PHỤC BINH quay về điềm cũ, và cứ thế lại tiếp tục. Đó là hình ‘Sin’ trong toán học nhưng biên độ không điều đặn.

Còn là câu đố hóc búa. Thấy Dương mà lên không nổi, thấy Xuống đắc ý ngồi lỳ… Có thế mà sinh ra 2 chữ luận đoán. Có thế, giới bói toán ‘ăn ốc nói mò’ nhưng trước tiên nói mò phải có cơ sở dữ liệu rồi hãy nói. Từ đây khi nghe các cụm từ như ‘Cuộc đời lên bỗng xuống trầm của ca sỹ (võ sỹ, văn sỹ…)… hoặc lên voi xuống chó, ông ấy mới lên nhậm chức chẳng bao lâu đã từ chức rồi... tức là người ta bàn đến KÌNH ĐÀ với những gì người ta thấy.

Và quan trọng là có lên thật không? Chắc gì thấy KÌNH mà lên? Cái gì lên? Lên chắc gì đã tốt, khi áp suất máu (hoặc thân nhiệt) đang tăng lại thêm KÌNH lên, có mà lên thiên đàng. Đang bay ai cũng mong xuống, lên xe mong lại xuống xe… Khi ở dưới thì cứ tranh giành lên cho bằng được, khi xuống lại tranh nhau đi xuống. Cũng lập luận như vậy với ĐÀ.

Lên xuống chỉ là nét đan thanh về KÌNH ĐÀ. Khi nghiên cứu trong đầu luôn luôn tự hỏi cái gì lên xuống vậy ta? Lòng ham muốn nổi lên? Dâm à? Ham muốn trổ tài à? Ham muốn quyền lực à? Đến cao trào chưa? Ngưỡng cửa chịu đưng?...

Lên Tốt Xấu: Lên tốt là lên nhà, lên lương, lên cấp, lên trên đầu thiên hạ mà ngồi, lên đời… đời lên hương, tìm kiếm hương hoa để xác nhận. Lên tốt là được nâng lên, nâng đỡ lên, phong chức, phong danh. Xấu là đưa lên để nhắm bắn, là lên thiên đàng gặp thiên thần đến nói nhỏ: ‘Thiên đường chính là hạ giới đó, ở đây chỉ có ảo giác mà thôi’. Ví như bạn tặng tôi một tách cà phê ảo vậy.

Xuống Tốt Xấu: Xuống cũng tốt, xong việc ai cũng mong xuống, lên mạng làm việc xong cũng mong xuống. Tai họa đang dâng cao như nước, như lửa, như chiến tranh, như cơn bịnh trong người… Ai cũng mong tai họa ấy xuống thấp nhất. Khi rời địa vị không để lại hậu quả nghiêm trọng, hạ cánh được an toàn, mất an toàn là bị lôi ra lại. Khi xuống tốt là sự đắc ý tự mãn đã hoàn thành nhiệm vụ ra về được kẻ đợi người đón. Xấu là bị hạ bệ, bị đạp xuống, bị thòng xuống huyệt chôn vùi đi… ngơ ngác gặp Diêm Vương nói: Xuống chi vậy, trần gian của mi là địa ngục đó. Đây chỉ là ảo tưởng mà thôi.

ĐÓN ĐƯA, NGHÊNH ĐÓN, ĐƯA TIỄN

Còn duyên kẻ đón người đưa. Hết duyên đi sớm về trưa một mình”. Ai làm Đình nầy hết duyên vây? Để đến hôm nay đi chẳng ai mong, đến chẳng ai đón, về chẳng ai chờ… Từ đón đưa, ta đoán được một số người có công việc chủ yếu đón đưa, tiếp khách như hướng dẫn viên du lịch, tiếp tân… Các chiến binh, khách của họ là đối thủ, đón đưa trọng vọng quá dễ có đi không về, tất nhiên khách của họ và chính họ đầy mình súng đạn hỏa khí (HỎA LINH KÌNH HÌNH). Chiến binh không chơi nữa đi về, họ cũng theo đưa tiễn, để chứng tỏ là hiếu khách. Trong tình cảm sự đón đưa chứng tỏ mình được trọng vọng hay không, mình còn lôi cuốn được hay không. Từ đón đưa ta còn đoán được đưa dâu, đón dâu trong hỉ sự, hay cuộc chia tay với ai đó trong buồn vui. Như:

Tôi tiển anh lên đường trời hôm nay mưa nhiều quá, mưa thấm ướt vai gầy, mưa xé buốt con tim…” Đưa tiển là đề tài muôn thuở được khai thác nhiều nhất. Nguyễn Du viết:

Chén đưa nhớ buổi hôm nay.

Chén mừng xin đợi ngày này năm sau…”.

Hoặc là

Người lên ngựa kẻ chia bào.

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.

Người về chiếc bóng năm canh.

Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi.

Vầng trăng ai xẻ làm đôi.

Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm đường…”

Và bây giờ chắc bạn không còn thắc mắc nghi ngờ gì LỰC SỸ là kẻ đợi chờ, đi với ĐÀ là ngội đợi, đi với KÌNH là kẻ đứng trông. Chỉ có trên TỬ VI Ứng Dụng mới có những điều lỳ lạ nầy mà thôi. Cảm hứng tại chỗ.

ĐÀ lẻo đẽo đi sau đưa tiễn

Còn KÌNH DƯƠNG trân trọng đứng chờ

TRƯỚC SAU, PHÍA TRƯỚC, PHÍA SAU, TIỀN HẬU, THƯỢNG HẠ, TRƯỞNG THỨ, THẤP CAO

KìNH chủ trước, phía trước, đến trước, đi trước, tiền phương… Còn ĐÀ chủ sau, phía sau, đến sau, đi sau, hậu phương…

Quan niệm thông thường đi trước oai hơn, quan trọng hơn, vinh dự hơn. Điều đáng nói ở đây nên căn cứ vào vị trí sao nào tốt để quyết đoán. Vì các nhân vật quan trọng trong các buổi họp thường đến sau, khi di chuyển cũng vậy, mô tô mở đường đi trước. Trong quân sự cũng vậy, quân đi trước là cái quân sẵn sàng hy sinh, cho cánh quân quan trọng đi sau.. Vị trí hay nhất là có cả trước lẫn sau. Có cả KÌNH và ĐÀ hội họp. Khi cần trước, có trước. Khi cần đi sau, thì đi sau. Lời tục thường nói “Ăn ở có trước, có sau”. Có trước mà không có sau coi bộ không hay mấy.

“Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau” là hành động của kẻ khôn ngoan. Cái gì nguy hiểm ở phía sau là hay nhất. Nhưng trong thực tế chưa chắc đã đúng vì: “nhưng không chết người trai khói lửa, mà chết người em gái nhỏ hậu phương”. Đoàn tiền quân với khi thế sẵn sàng địch không dám đánh, lại nhắm vào đơn vị hậu quân lè phè, coi thường… Vậy thì KÌNH, ĐÀ sao nào ngộ KIẾP, cái nguy cơ nằm về phía ấy.

Trong cuộc tình cũng vậy, người đến cuối cùng là người phối ngẫu đầu tiên. Kẻ đến đầu tiên chỉ còn lại kỷ niệm mà thôi. Từ đó KÌNH ĐÀ còn chủ lợi hơn và thua thiệt.

Đa phần kẻ đi trước có phần ưu tiên hơn, lợi thế hơn nhưng điều quan trọng không phải trước hay sau. Ta nên đánh giá tùy tùy thuộc vào Hung, Cát tinh tụ tập tại đấy mà luận đoán. Thực tế ta dễ gặp, trước cũng tệ mà sau cũng chẳng hay ho gì. Từ những yếu tố đó, bộ sao nầy còn dùng để luận đoán:

* Chủ TRÌNH ĐỘ. Với các yếu tố trên dưới… từ đó bộ sao nầy chỉ trình độ trong nghiệp vụ, kiến thức, địa vị trong xã hội. ..

* CƯ XỬ: Chủ hơn thua, tranh giành lôi kéo.

* DÁNG VÓC: Trong cơ thể chỉ dáng vóc thấp cao. KÌNH thiên về cao, ĐÀ thiên về thấp. Nhưng đừng vì 2 chữ thấp cao về vóc dáng không đúng rồi hoang mang, vì trong đó còn là trình độ, văn hóa cư xử… ông A là người có vóc dáng nhỏ bé nhưng ông ấy trình độ học vấn cao, hành động cao thượng, danh chức cao. Vì KÌNH còn chủ trưởng và ĐÀ chủ thứ. Như trưởng nam, trưởng nữ…Ví dụ: ‘Nó là thứ nam của tôi đó’…

KÌNH ĐÀ chỉ cho thấy tiền vận, hậu vận tùy thuộc vào Hung Cát tinh để đoán, chứ đâu phải TUẦN TRIỆT. Tại sao ai đó lại đề ra trước là TRIỆT sau là TUẦN, gieo rắc 30 năm đầu TRIỆT làm việc, 30 năm sau TUẦN làm việc. Chà TRIỆT về hưu sớm nhỉ? Còn TUẦN 30 năm sau mới chịu học hành.

“Tiền cát hậu hung”, “Tiền hung hậu cát”. Hãy nhìn vào KÌNH ĐÀ mà luận. Nếu thấy KÌNH gặp nhiều hung tinh tất tiền vận gặp nhiều khó khăn, ĐÀ xa lánh KỴ HÌNH KHÔNG KIẾP càng cao tuổi càng thong dong và ngược lại.

“Già rồi lo hậu sự về sau chưa?”. “Nhờ anh coi hậu vận như thế nào?”… Đó là câu thường nghe. Vậy thì hậu sự, hậu vận… là gì chưa biết, cả gan chấm TỬ VI thật liều mạng.

LỢI HƠN và THUA THIỆT, HƠN THUA, THẮNG THUA…:

* KÌNH DƯƠNG chủ sự hơn như nhiều hơn, to hơn, phần ấy nhiều hơn, nhiều tiền hơn…

ĐÀ LA chủ sự kém hơn, nhỏ hơn một tí, phần ấy nhỏ hơn, kém tiền hơn…

Phần lợi hơn là KÌNH, phần thua thiệt là ĐÀ.

* Điều đáng nói là KÌNH DƯƠNG sẵn sàng tranh chấp phần hơn còn ĐÀ LA chấp nhận sự thua thiệt đó. Vì vậy KÌNH là ngôi sao tranh giành, đua đòi sau nầy ta sẽ biết.

Bộ KÌNH ĐÀ phối hợp với KHÔI VIỆT cách KÌNH KHÔI hơn hẳn cách ĐÀ VIỆT rất nhiều.

*Khi tốt là KÌNH là kẻ thắng cuộc về đích trước. Kình xấu là nghênh ngang, nghênh ngáo… và còn nhiều yếu tố nữa.

* Khi tốt ĐÀ là kẻ tự mãn tuy có phần thua thiệt một tí. Khi xấu là bị đè, bị ép, bị đạp xuống dưới bùn đen xã hội.

KÌNH chủ sớm, trước. ĐÀ chủ muộn, trễ

KÌNH chủ sớm, trước, kẻ đến trước, nhất là khi có HỈ THẦN.

ĐẦ chủ muộn màn, trễ kẻ đến sau.

Đó là phần lý thuyết. Trước chưa chắc đã tốt, sau chưa hẳn kém hay. Tùy Hung, Cát tinh hội họp mới quyết đoán.

Có vợ sớm, có con muộn. Công danh sớm, muộn...

Có nhiều cái sớm rất hay và có nhiều cái muộn mới hay. Ví dụ: Chết sớm không ai mong, yêu sớm chắc thân nhân không hài lòng. Và những phần về sau ta sẽ biết. Vì sao ĐÀ muộn và ai đó nếu thấy mình sớm nhưng nào thấy có sớm đâu, cũng đừng hoang mang vội làm gì, vì cái tội quá sớm. À mầy đi học quá sớm chắc là đi chơi rồi, thế là đập cho một trận hóa ra trễ tràng. Thế là từ sớm đâm ra muộn.

ĐÀ chủ trễ có vẻ như thiệt thòi nhưng quan trọng có cát tinh hay không? Biết bao cái nhờ trễ, nhờ muộn mà tránh được tai họa. Đúng là ăn cỗ đi trước, tôi tới muộn khỏi ăn, và những người đó nhập viện còn tôi không. Vậy sớm chắc gì đã hay, muộn chắc gì đã tệ.

KÌNH CHỦ NỔI...ĐÀ CHỦ CHÌM

* Chìm nổi mà ta thấy được như chiếc tàu nổi, chiếc cầu chìm. Một phần chiếc tàu luôn luôn nổi và phần còn lại là chìm dưới làn nước. ĐÀ chịu phần thua thiệt để KÌNH nổi lên khoe với đời. Cũng như biết bao nhiêu người chịu chìm sau sân khấu để diễn viên vài người trình diễn, một xướng ngôn viên truyền hình xinh đẹp ngồi đọc bài viết cho chúng ta xem, biết bao nhiêu con người phục vụ cho họ, chúng ta chỉ thấy 1 người mà thôi. Kẻ chìm đi để người kia được nổi. Để có những dòng chữ nổi lên đây, giờ đây bạn đang đọc đó, đã từng chìm sâu trong suy nghĩ không biết bao nhiêu năm trường.

Chìm nổi ta có thể thấy được, sờ được, ghi hình được là nhà cửa.

Chìm nổi ta cảm nhận được nổi đau đớn là ung nhọt trong thân thể.

Chìm nổi ta hiểu được như cuộc đời chìm nổi của ca sĩ X, danh tướng Y...Ngoài ra còn chỉ cụ thể như: Nổi loạn, nổi danh, nổi dâm…. Cuộc đời ba chìm bảy nổi, KÌNH chủ nổi, lên, thăng, thượng...

ĐÀ chủ chìm xuống, giáng, hạ....

Nhưng chỉ có lên mà không có xuống coi bộ không hay, chỉ có xuống mà không có lên coi bộ cũng không được. Ví dụ: xuống biển, xuống tàu tất mong được lại lên bờ. Lên máy bay tất có lúc mong đi xuống, bộ muốn lên thiên đàng sao? Đi xuống mà không thấy đi lên là xuống địa ngục, hạ thổ.

KÌNH khen ngợi, tán dương, dương danh. ĐÀ đắc ý, tự mãn.

Khi tốt KÌNH ĐÀ chủ ngợi khen tán thưởng, tán dương hay nhất là có PHƯỢNG CÁC ngưỡng mộ hoặc có HỒNG ĐÀO vui mừng la lớn. Thế là KÌNH ngẩng mặt nhận huy chương, bằng khen, ĐÀ LA rung đùi tự mãn.

Hấp dẫn lôi cuốn và Khuyến khích.

Một ĐÀ LA tốt là vô cùng hấp dẫn người khác. Một KÌNH DƯƠNG hay là vỗ tay tán thưởng, là sự khuyến khích. Xem kìa cô ta hấp dẫn. Cái nầy đáng khuyến khích con cái nên xem… Nhiều ví dụ để mượn đó mô tả bộ sao nầy. Dĩ nhiên bộ sao ấy đi với Cát tinh, đi với hỉ tinh. Nếu đi với dâm tinh lại phải đoán khác. Đi với KỴ HÌNH tinh đoán khác. Đi với ngôi sao tình yêu đoán khác…

Cái gì hấp dẫn lôi cuốn thế? Thân thể con người ấy. Văn chương của người ấy. Cửa hàng của người ấy… Từ đó ĐÀ là nổi đam mê, KÌNH là sự khêu gợi. Cuốn hút chúng ta vào đó.

Cứng rắn và mềm yếu.

KÌNH chủ cứng rắn cương cường, mạnh thẳng như cây kiếm, cây giáo, cây thương…

ĐÀ chủ mềm yếu, yếu lòng, mủi lòng… nhưng có lúc ĐÀ còn là lực nén của cánh cung, là cái lò xo chịu lực và nó phản lực trở lại, nói lên quyết tâm cao của ĐÀ là hạ quyết tâm, hạ thủ. Nhìn chung KÌNH là kẻ cứng rắn, cương quyết trong một số trường hợp phải đoán đoán là cứng đầu, cứng cổ là ương nghạnh, là ngông nghênh, ngông cuồng.

KÌNH như Karatedo. Đà như Nhu đạo. Không phải bao giờ nhu cũng thắng cương, nhược thắng cường, tùy tình hình cụ thể để luận đoán. Không phải bao giờ cứng rắn cũng hay, cũng như mềm yếu lại được.

Nhẫn Nhịn và Nhu Nhược.

KÌNH còn là ngôi sao nhẫn nhịn, chịu nhục nuốt hận vào trong. ĐÀ LA chủ sự nhu nhược. Không phải vô cớ người Hoa viết chữ nhẫn với bộ Đao và bộ Tâm ra chữ nhẫn, tức là trong lòng có mũi dao nhọn. Chẳng qua là ta nhin mà thôi. Vì:

Một sự nhịn chín sự lành. Huống chi trăm nhịn thái bình như không”. Một khi KÌNH DƯƠNG không còn đủ kiên nhẫn thì ĐÀ LA hạ quyết tâm cao. Hai chữ hạ thủ thay thế bằng chữ nhu nhược. KÌNH DƯƠNG lại bung trở ra cứng rắn như ban đầu.

Cuộc đời có nhiều minh chứng cho thấy. Không nên ép ai thái quá sẽ bị phản lực trở lại. Cho dù bạo quyền như Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn học trò, thì sách xưa vẫn còn đó, kẻ sỹ vẫn còn đây. KÌNH DƯƠNG vẫn oai hùng, ĐÀ LA vẫn tự mãn.

KÌNH chủ công, chống, tấn công ĐÀ chủ thủ, phòng ngừa, phòng bị, phòng thủ, phòng vệ.

ĐÀ chủ đề phòng, KÌNH chủ chống. Phối hợp nhịp nhàng với bộ TUẦN TRIỆT chủ phòng trừ. ĐÀ là nơi ta phòng bị rất chặt chẻ, cao hơn cả TUẦN vì TUẦN nhìn bao quát quá lớn. Cũng như khi nói: Ở nhà trông chừng nhà nghe chưa? Trông chừng đó là TUẦN, nhưng ta chỉ đề phòng cái cửa ra vào thôi, đó là ĐÀ.

KÌNH chủ chống. Như chống sâu bệnh hại lúa, chống mù chữ, chống giặc ngoại xâm... Trong trường hợp nầy KÌNH hợp với TRIỆT.. Bộ KÌNH TRIỆT giá trị như triệt để chống...

ĐÀ chủ phòng. Như phòng ngừa sâu bệnh, phòng tái mù chữ, phòng giặc ngoại bang... Trong trường hợp nầy ĐÀ hợp với TUẦN. Bộ ĐÀ TUẦN tính phòng ngừa rất mạnh mẽ.

Xét về lý ĐÀ hay hơn KÌNH ở điểm nầy. Phòng giặc hơn là chống giặc. Phòng người hơn là chống người. Ví dụ: Nếu biết nó nguy hiểm ta đề phòng trước, không giao du tiếp xúc... Nhưng hay nhất vẫn là biết cả phòng lẫn chống. Phòng ngự mãi đối phương tấn công tất có lúc lọt lưới.

Bạn chú ý bài viết nầy còn dài… ngày mai sẽ tiếp tục viết tiếp tại đây. Không mở thêm đầu đề mới. Nhưng trước mắt ngày mai lại bận đám cưới. Còn bây giờ lại bận chuyện khác,

Phần hai.

Viết ngày 3.5.2009.

Khó Khăn và Trở Ngại. Chông gai và dây dợ

KÌNH chủ sự khó khăn, chông gai, chướng ngại vật, chướng tai gai mắt, mũi nhọn trước mắt… làm cho ta khó chịu muốn nhổ phức, bẻ gãy nó đi. Sự khó khăn đó có khi thấy được, sờ được nhưng có khi lại chỉ cảm nhận được như những lời nói khó nghe… đến thấy được như biển lớn khó lòng vượt qua được.

ĐÀ chủ sự cản trở, sự trở ngại, dây nhợ, vướng víu, vật cản, sự ràng buộc về gia đình, về công việc, về lễ nghi… Còn là núi non cản lối, rừng rậm chằng chịt.

KÌNH ĐÀ là hàng rào thép gai với tua tủa gai nhọn, là biển lớn sông dài với núi cao khó vượt. Có khi sự khó khăn trở ngại đó nằm ngay chính trong bản thân của chúng ta, vì không đủ sức để làm, ta không vượt qua nổi chính ta. Sự khó khăn, cản trở đó còn là hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, tài chính… Thấy bộ sao nầy là dễ thấy nhất là khó khăn và trở ngại. Cá biệt đi với Cát tinh, hỉ tinh là sự thành công vui mừng.

Tốt là vượt qua được trở ngại đó để thành công. Ta gọi là vượt khó.

Xấu là không thể vượt qua được.

Kình khiêu khích. ĐÀ cản trở

KÌNH trong một số trường hợp là sự khiêu khích, châm chọc như khiêu chiếu, diệu võ dương oai, lời nói khích, thái độ khiêu khích, động thái khiêu khích… Như tình trạng biển Đông bây giờ. Cùng lúc ĐÀ làm nhiệm vụ cản địa, cản trở, ngăn đón… làm cho ta khó tìm thấy đồng minh cần giúp đỡ. Hành vi của nước láng giềng, cũng chẳng khác gì hành vi của một kẻ mạnh thiếu văn hóa. Khó chịu nhất là hạn ngộ KÌNH có lưu KÌNH xung, hoặc hạn ngộ KÌNH cố định có lưu KÌNH xung. (Để giải thích phần nầy ta lại lạm bàn qua phần Hạn. Cụ thể nhất là tuổi Quý nam như Quý Sửu, Quý Mùi năm nay Kỷ Sửu ngộ lưu KÌNH có KÌNH cố định xung. Nhất là trường hợp 2 tuổi trên Đại Hạn ở tại cung Sửu, thật là tồi tệ… Các tuổi nam Đinh Sửu, Kỷ Sửu, Đinh Mùi, Kỷ Mùi, Giáp Thân, Giáp Dần lâm thế Kình cố định có lưu Kình đánh thức dậy….)

Đáng ngại là các trường hợp KÌNH HÌNH KỴ mà sau nầy đi sâu vào các bộ sao mới thấy hết phức tạp.

KÌNH chủ chống. ĐÀ chủ xây.

KÌNH chủ chống như chống đối lại cái xấu, cái ác, cái tệ nạn, cái sai lầm, sai trái… từ đó KÌNH như một ngôi sao ưa chống đối. Nhưng thật ra khi chống đối trong đó có ý xây dựng người ta mới chống không ngoài mục đích xây dựng cho mình trở thành tốt đẹp hơn.

ĐÀ cũng vậy, người ta cản trở mình đâu phải gây trở ngại cho mình, mà thật tâm muốn xây dựng cho mình, đừng mất công phí sức, đừng đi vào, đừng bị lôi kéo vào chỗ xấu.

Ví dụ đừng vào nơi đó nó nguy hiểm, nó chẳng hay ho gì mất thì giờ thôi bạn ơi! Sự cản trở, cản ngăn đó rất có lý. Hoặc ‘Chỗ nầy vô phận sự cấm vào’ nếu ta vào sẽ bị sự chống đối quyết liệt, Vì cái an nguy của ta mà kẻ khác không cho ta vào. Nếu thấy người thân phạm sai lầm trong suy nghĩ, trong hành vi ta chống lại không ngoài mục đích ‘dựng’ lại cho ngay thẳng nếu không sẽ ‘đổ’.

KÌNH chủ Chống. ĐÀ chủ Theo. Nghịch và Thuận.

ĐÀ chủ thuận theo, xuôi theo… KÌNH chủ nghịch lại, ngược lại.

ĐÀ chủ theo. KÌNH chủ chống. Bởi vậy một sự thật rất buồn cười, khi ta theo A lội xuôi dòng vô tình ta chống lại B. Và ngược lại kẻ chống đối vô tình cũng đi theo ai đó. Và cứ thế kẻ lội xuôi và người lội ngược trên cuộc đời. Một nửa số người khổ tâm vì luôn luôn số mệnh bắt mình theo hay chống. Thoạt nghe, chúng ta cứ ngỡ là theo dễ hơn chống, thật ra theo cay đắng hơn chống nhiều. Vì sao? Vì theo cái tốt hay cái xấu? Biết cái gì tốt, biết cái gì xấu? Khi ta chưa có trình độ, ta chưa phân biệt đúng sai, nghe ai nói lần đầu ta tin ngay. Thế là ta theo. Như các câu sau đây.

ĐÀ LA ĐỊA KIẾP chiếu phương. Gặp LINH TINH nạn bất thường chẳng sai”. Vì hình thành cách ĐÀ LINH KIẾP mà ĐÀ LINH có nghĩa nghe theo lời xui khiến mà gặp nạn ĐỊA KIẾP. Cũng như cách LINH XƯƠNG LA VŨ nghe lời xui khiến phẩn uất đâm đầu xuống sông mà chết, điều nầy người viết nói nhiều rồi. Ngay bộ ĐÀ KIẾP thôi cũng lắm tai nhiều họa vì cách nầy (về sau chúng ta sẽ tìm hiểu từng bộ sao một) bộ ĐÀ KIẾP là bộ sao dễ mắc vào bẫy, vào lưới…là bộ sao mang tai họa về, là đem tai họa đến cho cả người khác nữa… tạm thời ta khoan đi sâu vào rất dễ lạc đề.

Ta cần biết sự thật KÌNH ĐÀ là gì?

ĐÀ LA là bị rầy la, đễ hướng dẫn đến chỗ tốt đẹp hơn, để khỏi đổ vỡ.

KÌNH DƯƠNG là dựng lại, chống lại, khuyến khích cho ngay thẳng, nếu không sẽ đổ vỡ.

KÌNH ĐÀ là bộ sao của nhào nặn để trở thành người hữu dụng trong xã hội. 2 sao nầy mở ra nhiều bộ quan trọng có thật trong cuộc đời là bộ Giáo Dục, bộ Xây Dựng, bộ Quốc Phòng, bộ Thể Thao…

Nhưng không phải ai ta cũng nhào nặn được. Thôi thì “mềm nắn rắn buông” nhưng nếu KÌNH ương ngạnh quá đành thả tay, tốt xấu do mình. Để sửa lại thành ngữ trên theo quan điểm TỬ VI là “ ĐÀ nắn KÌNH buông”. Nói như vậy những người có ĐÀ khoan vội đắc ý vì coi chừng bạn chỉ là cỗ máy, là đồ chơi của kẻ khác. Và KÌNH có khi hưởng chữ trung kiên (trung dũng kiên cường là đây).

KÌNH chủ dựng. ĐÀ chủ xây.

Xem kìa cây này nghiêng nghiêng dễ tự đổ, vì thế cần chống thêm cây cột Kình Dương để cây khỏi ngã. Tết đến, xem hoa đa phần nhìn kỹ trong các chậu hoa đều có những cây tre mảnh khảnh làm trụ để cây hoa thẳng đứng vươn lên khoe sắc, cây tre đó là KÌNH DƯƠNG. Chào cụ, cụ đi đâu mà phải chống gậy vậy? Già rồi, không có cây ba toong KÌNH DƯƠNG nầy té có mà chết.

KÌNH DƯƠNG là cây nạn của thương binh nhưng trước đó nó là cây súng, còn trước đó nữa là niềm hãnh diện của người mang súng. Tất nhiên không phải ai có KÌNH DƯƠNG đều phải dùng đến nạn.

ĐÀ LA uốn nắn làm cây cối thêm đẹp, nhà cửa thêm hợp lý, đường xá nơi nào cần thẳng, nơi nào cần cong, trong vườn hoa cần tạo thêm xa xôi uốn lượn.

KÌNH ĐÀ là bộ sao của Xây Dựng nhưng quan trọng là xây dựng cái gì?

Xây dựng một con người tốt.

Xây dựng một tổ chức như đảng, như đoàn thể, công ty…

Xây dựng nhà cửa để có nơi sinh sống.

Xây dựng gia đình để có thêm một tế bào trong xã hội.

Xây dựng tình cảm với mọi người…

Và xây dựng đó thành hay bại, tốt hay không (xây dựng một tổ chức chuyên lừa đảo…), quan trọng hay không (xây lại căn nhà bếp mà cũng la to). Bạn thấy đó để bàn về yếu tố xây dựng nhà cửa hay xây dựng gia đình… là cả một bài viết dài. Ở đây chúng ta chỉ cần biết KÌNH ĐÀ là xây dựng.

Bành trướng và Kháng chiến. Phát triển và vượt lên. Lan tỏa và vươn lên…. Tụt hậu, không đương cự lại. Thối lui, thoái trào. Cây gươm bẻ gãy. Là bỏ súng bên trời. Rửa tay gác kiếm.

ĐÀ khi tốt là vươn ra phát triển ra theo chiều ngang, như cái bụng bự ra, nhà cửa vươn ra thiên về 2 bên và phía sau (vươn về trước dễ phạm lộ giới), lan tỏa ra như hương hoa lan tỏa trong không khí, phương danh bay khắp mọi nơi. Như cái bánh phồng tôm trong chảo dầu.

KÌNH khi tốt là vượt lên cao, vươn lên trước để dẫn đầu, từ xa ta đã nhìn thấy. Cái gì cao thế cái nhà của ông KÌNH DƯƠNG đó. Ai ngồi trên ghế cao thế? Ông KÌNH DƯƠNG đó. Ai đứng trên bục số 1. Cũng ông KÌNH DƯƠNG đó, chả trách ông ta dương dương đắc ý.

KÌNH vươn lên cao theo chiều thẳng đứng. ĐÀ bành trướng trương phồng theo chiều ngang. Như một thành phố trẻ năng động, như một quốc gia trong thời cường thịnh. Khi nói hùng cường, cường thịnh, hùng mạnh… là KÌNH ĐÀ.

Một khi cường thịnh rồi muốn phát triển vươn ra nữa tức rơi vào chỗ xâm lăng, xâm lấn, xâm lượt chưa nói đến xâm hại, xâm phạm… đến kẻ khác.

Ta thấy khi Pepsi mạnh rồi sẽ xâm lấn Coca. Khi một quốc gia mạnh lên rồi, 2 chữ bành trướng trương phình có trong đầu của họ. Và họ luôn luôn ‘đâm bị thóc thọc bị gạo’ làm cho những nước lân bang suy yếu dễ bề xâm lăng bằng quân sự, xâm lược bằng chính trị. Cần xâm lấn các lân bang là nạn nhân đầu tiên vì liên cư, liên địa. Vậy ĐÀ LA là kẻ xâm lược, KÌNH DƯƠNG là kẻ kháng chiến.

Vì sao KÌNH phải chống vì thằng ĐÀ nó xâm lược, xâm phạm, xâm lấn, xâm lăng… đất đai của tổ quốc tôi (của tổ chức, gia đinh, tổ tiên, nhà cửa, công việc…). Và câu chuyện xâm lấn đó từ vĩ mô đến vi mô, từ quốc tế đến cá nhân. Từ ngàn xưa đến tận bây giờ không bao giờ hết, không bao giờ chấm dứt, cứ phát triển, phát triển mãi… Một câu chuyện không bao giờcó đoạn kết.

ĐÀ phình to quá có lúc xẹp xuống, thái quá tất tự nổ tung. Có kẻ lại cho là thoái trào, tụt hậu, rút lui không kèn không trống… thôi thì tùy thương ghét mà nói.

KÌNH vươn lên cao quá cả trăm tầng tất dễ bị sụp đổ dù chỉ động đất nhẹ, dưới đất chỉ rung một ly, cao một km tất phải rung một mét, đó là nguyên tắc toán học mà. (Có người sợ độ cao là cách KỴ KÌNH, chỉ đứng từ tầng 6 nhìn xuống lòng tự sợ hãi. Dĩ nhiên những người sợ độ cao, không dám ở nhà cao tầng. Nếu có người sợ độ cao tất phải có người sợ độ sâu).

KÌNH DƯƠNG cao quá, chon von quá, chót vót quá dễ bị người ta ghét, soi mói một cách ngẫu nhiên vì quá nhiều đích nhìn thấy mình. Vì thế các cường quốc tự lụi tàn, nào là La Mã, Hy Lạp, Ai Cập, Mông Cổ chỉ còn là cái tên vang bóng một thời, tiếp Tây Ban Nha rồi Anh Quốc, Đức, Nhật nay Mỹ… cuộc thịnh suy của bộ KÌNH ĐÀ. Khi dương là KÌNH khi chìm vào quên lãng lại là ĐÀ, cuộc rút lui lặng lẽ, rửa tay gác kiếm, rửa tay gác bút. Khi sao LỰC SỸ kẻ gắng sức đã vắt hết sức mình rồi.

Giương lên, mở ra hoặc đóng lại hay hạ xuống.

KÌNH ĐÀ là 2 tác động luôn luôn có trong ta. Giương mắt lên nhìn rồi cúi xuống lại. Mở cửa ra chiều tối đóng cửa lại. Nhưng cũng có người tối mở ra ngày đóng lại. Mở cửa và đóng cửa là 2 thao tác thường xuyên. Thế nhưng, luôn luôn đóng cửa là chí hướng khác thường. Vậy thì câu: “CỰ MÔN ĐÀ LA tất sinh dị chí là vậy”. Vì CỰ MÔN chỉ cái cửa mà ĐÀ chủ đóng lại. Một cái cửa luôn luôn đóng, một tâm hồn luôn luôn khép kín. Có phải là dị chí không nhỉ? Một cái miệng là CỰ MÔN dùng để ăn, nói. Nếu chỉ có ăn mà không nói, hoặc chả thèm ăn cũng chẳng buồn nói, hoặc cứ ngồi nói chẳng chịu ăn, nói không cũng đủ no. Đúng là dị chí (tức chí hướng khác thường). Thà rằng CỰ KÌNH cánh cửa luôn luôn mở rộng như cánh cửa từ bi luôn luôn rộng mở. Còn hơn làm cánh cửa để giam mình vào trong đó. Dĩ nhiên những người có cách CỰ ĐÀ cũng có lý do của riêng họ, đây nói chung tổng quát mà thôi. Ví như học hành đỗ đạt ra làm quan nhưng trúng phải thời kỳ hôn quân, tham quan, nhũng lại (lại là quan nhỏ) ta đắm mình vào bùn nhơ làm gì. Làm cái gì đó kiếm sống qua ngày, còn hơn là vào lòn ra cúi, vui câu nịnh hót, buông lời tung hô dối trá. Không phải vì có học rồi viết lách, viết láo sinh chuyện… thôi thì coi như không biết chữ, không biết đọc còn hơn đọc rồi không hiểu, 2 chữ anh hùng là gì? Nhân dân là gì? Thầy giáo nhân dân là gì? Thầy giáo ưu tú là cái chi?

Bởi thế KÌNH dương mắt ra nhìn đời thấy như cái gai trong mắt.

Đà phải nép mình, nhún nhường không muốn mua dây nhợ vào thân.

Kình nhìn đời như gai trong mắt.

Đà nép mình phiền toái vào thân.

Vì vậy cách CỰ KÌNH là cách khai trương, mở cửa. Cách CỰ ĐÀ là cách bế mạc, bế môn tỏa cảng, méo miệng vì lo. Cho nên từ vị trí TẤU THƯ hay HỈ THẦN thấy cả bộ KÌNH ĐÀ mới hay. Đóng mở tùy lúc. Như Mở Word ra viết, khi không cần thiết đóng phức lại, mất điện khỏi lo, tìm file cứu hộ.

Trong thiên nhiên KÌNH là buổi sáng mặt trời đang vươn lên. ĐÀ là chiều hôm đang buông xuống.

Bút và nghiên. Dạy dỗ và khuyến khích.

Từ vị trí TẤU THƯ ngôi sao của biên chép có XƯƠNG KHÚC, ta có đủ bộ “Văn phòng tứ bảo”. TẤU THƯ biên chép để trao đổi tin tức (ĐẠI, TIỂU HAO) gởi đến cho QUAN PHỦ (là nơi nhận) ngoài kia KÌNH DƯƠNG đang chờ, hoặc trong nầy TẤU THƯ đang đợi. Đây là việc làm hằng ngày của giới văn phòng, gởi nhận, biên chép, rồi chờ đợi. Đến đây mọi việc đã rõ ràng không còn gì bàn cãi.

Nhưng để làm cái công việc văn phòng (từ văn phòng công, tư sở đến thư phòng cá nhân) đó. Chúng ta phải học trung bình trên 10 năm. Và dòng mực đen, xanh, tím từng vương vãi (cũng là ĐÀ) trên áo học trò, trên trang giấy trắng. Vì ĐÀ LA chủ sự ‘hướng dẫn của thầy cô’ còn KÌNH DƯƠNG là những lời khuyến khích cũng có, và khuyến cáo cũng có tùy thuộc KỴ HÌNH tinh. ĐÀ LA có nghĩa là vừa la hét, vừa hướng dẫn. Ai là người từng hướng dẫn trong ngành nhà giáo, ngành du lịch, hướng dẫn trong huấn luyện thao trường, đến hướng dẫn chương trình tránh sao khỏi la hét được. Nhưng cái hét của người có Văn hóa dễ nghe. Xin quý vị hãy làm như thế nầy nè… Đừng quên ĐÀ LA là ngôi sao lôi kéo và ta được lôi vào phòng để học của XƯƠNG KHÚC, và hồn lỡ sa vào đôi mắt ai cũng là ĐÀ LA, đến bị lôi kéo cuốn hút, khuyến khích vào cái bẫy đang giương ra cũng KÌNH ĐÀ mà thôi.

KÌNH ĐÀ là cái bẫy đang giương ra.

ĐÀ LA là cái lưới di động, cái lưới đang kéo rê. Cũng là cái lưới là ĐÀ LA đang giăng bày ra và KÌNH DƯƠNG chủ đang dương bẫy. Có bao giờ bạn thấy cái lưới đánh chim chưa? Có ĐÀ là cái lưới với những cái cọc KÌNH DƯƠNG để giăng lưới. Nói đến cái bẫy chuột chắc bạn biết rồi đấy. Cái bẫy chưa giương lên vô hại nhưng khi giương bẫy lên có tính nguy hiểm (nhất là bẫy thú). Từ vị trí TẤU THƯ, HỈ THẦN ta thấy đủ cả bộ KÌNH ĐÀ. Dễ thấy cái bẫy đang giương ra. Và cách ĐÀ KIẾP là cách mắc bẫy, dính bẫy (xem mới bàn ở trên) và KÌNH KIẾP là hình ảnh con vật bị ngo ngoe trong bẫy. Để dẫn dụ (cũng là ĐÀ LA) con chuột ta tạo mùi thơm, để dẫn dụ con người còn dễ hơn thế nữa. Xem ra con người là con vật ngây thơ nhất. Dùng hình ảnh, lời nói, tiếng động, mùi hương… đến phú quí vinh hoa không nhìn thấy được. Đem làm vật dẫn dụ. Và cũng chính con người là con vật nguy hiểm nhất vì chính con người sáng tạo ra cái bẫy, cái lưới từ hữu hình đến vô hình để hại nhau.

Vì thế có học giả TỬ VI (đương nhiên là nạn nhân của KÌNH ĐÀ) không ngại gì xếp bộ sao nầy vào Sát tinh. Thật ra KÌNH chỉ hung hăng khi đi với LINH nằm trong bộ SÁT PHÁ, hoặc phải chống đối như THIÊN TƯỚNG vì đòi hỏi sự công bằng. Hoặc chống đối thân nhân như khi có bộ NHẬT NGUYỆT (vì bộ sao nầy chỉ rõ đối tượng là nam và nữ) Và đương nhiên bộ sao nầy hỗ trợ cho nhóm KHÔNG KIẾP HỎA LINH. Và KÌNH ĐÀ trở nên nguy hiểm khi nằm trong nhóm sao vừa kể.

Bạn thân mến. Bài KÌNH ĐÀ ắt còn đến 2 lần viết nữa mới tạm gọi là đầy đủ, tháng nầy Kỷ Tị gây bất lợi cho tuổi người viết. Một lưu KÌNH DƯƠNG năm lại thêm lưu KÌNH tháng Kỷ Tị, và KÌNH ngôi sao của khó khăn, tại khu vực ở hay bị mất điện vì sự cố, có một số công việc phải cần làm. Cho nên bài biết phải tạm dừng tại đây, phần tiếp theo cũng dán tiếp tại đây.

Có đọc câu hỏi của các bạn nhưng ưu tiên là viết cho xong bài nầy đã. Đúng là KÌNH DƯƠNG dễ hóc xương.

PHẦN 3.

Viết ngày 4.5.2009.

DÀN DỰNG…. đặt điều… dựng đứng…

Làm một bài văn chúng ta từng học cách dàn dựng nào mở đầu, thân bài và kết luận. Dàn dựng là yếu tố không thể thiếu khi viết văn, khi đạo diễn một chương trình nghệ thuật, trong quân sự là dàn binh, bố trận hợp lý…

Cũng chừng ấy con chữ, Thi sỹ xào qua, xào lại thành thi ca còn chúng ta thì không. Văn sỹ cũng vậy. Thế mới biết các chàng nầy giỏi dàn dựng. Các Kỷ sư cũng dàn dựng trên bản vẽ trước khi dựng lên thật. Giới Họa sỹ gọi là phác thảo, sau đó bôi bôi, bệt bệt thành bức tranh, còn chúng ta thì không. Vậy dàn dựng tốt đưa đến thành công. Nhưng cũng có những cái dàn dựng xấu, chúng ta cần biết là đặt điều, dựng đứng những câu chuyện có đầu đuôi để bôi bẩn người khác. Từ vị trí nầy hay gặp ĐƯỜNG PHÙ thổi phồng cho to, nếu có HỒNG LOAN loan báo lớn làm cho những câu chuyện thoạt tiên không có gì, trở thành những câu chuyện như thật. Ví dụ như là:

“Chà! cái giếng nước nầy ngon quá. Uống vào cứ y như là bao bệnh tật tiêu tan”. Một tiếng ngợi khen vô tội vạ. Nhưng gặp một tay khéo dựng chuyện thành cái giếng thần …kỳ.

Vậy Dàn Dựng là một yếu tố rất cần thiết để thành công. Xấu tốt tùy thuộc vào Hung Cát.

Chưng bày hay trưng bày, trình bày, khoe ra… hay bày đặt.

Có người nói chưng bày có người nói trưng bày. Thật ra nói trưng bày đúng hơn nhưng do đặc tính địa phương có người phát âm chữ tr khó nên nói chưng bày, chưng diện… Trưng bày hay trình bày cũng là một đặc điểm của KÌNH là ưa dương ra, bày ra, khoe ra… Có người khoe đẹp, có kẻ khoe giàu, người thì khoe con cái, cha mẹ, có người khoe xe cộ, nhà cửa, có người khoe hình thức ăn mặc đôi khi dấu đi những dốt nát bên trong… Kình chủ dương ra và ĐÀ là cái người ta làm ẩn đi.

Có khi người ta treo tấm tranh để che lỗi của bức tường.

Có người để mái tóc dài để che cái sẹo do đánh lộn năm xưa.

Có kẻ cười vui để che nỗi lo trong lòng.

Nếu có người khoe vui, sướng, đẹp, giàu sang… thì cũng có người khoe cái nghèo, cái khổ, cái xấu… để được cảm thông, để được tìm thấy sự biểu đồng tình của kẻ khác… Nói không xa, qua các trang blog ta cũng thấy rõ tâm trạng đó. Có phải tại lưu KÌNH của tháng Đinh Tị không mà gần đây các blogger thay đổi liên tục các avatar, hình nền liên tục. Khiến Đình nầy chưa kịp nhớ đã vội thay. Qua các cách trình bày đó cũng hiểu được tính cách của mỗi người. Nếu có dịp đi ra phố ta gặp các phòng trưng bày xe cộ, đồ gỗ… và đấy là ngôi sao KÌNH DƯƠNG đó. Và cũng từ đó ta đoán được một số nghề nghiệp liên quan đến KÌNH là công việc của họ là dương dương hàng hóa mà thôi.

Nếu có ai khoe thân thể là do có KÌNH tại cung an THÂN.

KÌNH thuộc về nhóm sao lộ. ĐÀ thuộc nhóm sao ần.

KÌNH thuộc nhóm sao lộ, hợp với THIÊN LƯƠNG (phơi bày), TRIỆT ưa lộ ra nhưng gặp THÁI DƯƠNG lại gây xung đột mâu thuẩn (2 sao khoe xung nhau, ê nhìn gì dữ vậy mầy?)

ĐÀ thuộc nhóm sao ẩn, hợp với TỬ VI, THIÊN PHỦ, THÁI ÂM, TUẦN…

Việc phân loại nầy giúp ta luận đoán thêm chính xác. Tính đắc dụng của sao tại MỆNH và tại Hạn.

KÌNH ĐÀ trong thân thể là gì?...

Trong thân thể KÌNH DƯƠNG là cái đàn ông có đàn bà không? Và ĐÀ LA là cái đàn bà có đàn ông không có. Do cái ta có đi tìm cái không có. Vì thế KÌNH DƯƠNG có nghĩa là con dê buồn sừng húc giậu thưa như bà Hồ Xuân Hương đã tả.

Khéo léo đi đâu lũ ngẩn ngơ ?
Lại đây cho chị dạy làm thơ.
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê con buồn sừng húc giậu thưa
.

Hồ Xuân Hương mô tả kẻ còn nhỏ mà thả dê sớm.

Nếu thắc mắc thì đây: Đối với nữ

“DƯƠNG CỰ HAO thật không lành

Chồng con phối hợp bất thành hôn nghi”

Tức cách CỰ NHẬT ngộ HAO tức thấy bộ KÌNH ĐÀ

Đối với nam.

“ÂM phùng HAO tú một phương

Thành hôn chẳng lọ là đường cưới xin”.

Trên là cách phi lễ thành hôn. Đối với nam và nữ.

Đó là vấn đề sex, cũng không nên quan trọng hóa, nhưng đã nghiên cứu cần biết, ta sẽ gặp một số tình huống về bệnh lý như: bệnh lãnh cảm, thái quá về tình dục để có cơ sở luận đoán… có thế mới nói, sờ gì moa cũng biết. Bây giờ đã hiểu tại sao rồi có gì bí mật đâu.

Đi với bộ NHẬT NGUYỆT nhẹ nhàng nhất là lời ‘tán tỉnh”, ‘tỏ tình”.

KÌNH ĐÀ và đồ vật

* Các đồ vật có hình dáng gương lên cao, cứng, sắc nhọn, dáng thẳng… như chông, gai, bẫy đinh, cái chày, cây gậy, vũ khí… là KÌNH.

* Các đồ vật gây vướng víu, dây nhợ, lưới, bẩy giây, bẫy lưới, mềm mại là ĐÀ LA và sao nầy còn có nghĩa cái bẫy đang kéo rê, lưới quét.

Đi với văn tinh KÌNH là bút, ĐÀ là nghiên mực.

Đi với Hung Sát tinh. Kình là khí cụ tấn công như gươm đao… ĐÀ LA trang bị phòng thủ như giáp, trụ, khiên.

* Vật thấy được, nổi lên trên, phía trước là KÌNH, phần không thấy được là ĐÀ LA ở phía sau, phía dưới.

Lực đẩy giúp ta tiến về phía trước.

ĐÀ là lực đẩy giúp ta tiến về phía trước tức là KÌNH.

ĐÀ LA là tiếng hò kéo lưới, hò giã gạo trong đêm…KÌNH là sự khuyến khích cho xong công việc. Kình Đà là nghiên bút, là phòng chống sự xấu xa. Là nỗi niềm vui buồn cũng có mà cay đắng cũng đây. Là chông gai cản trở bước ta đi… Một nửa số người có bộ sao nầy tại MỆNH đã quen rồi khó khăn trên đường đời, đã tập huấn trong gian khổ. Một nửa số người dễ choáng váng khi hạn ngộ KÌNH ĐÀ (như ông Nguyễn Văn Thiệu, Hitler…) nhất là thứ KÌNH ĐÀ không đương cự nổi. Thấy bộ sao nầy tối tăm mặt mũi.

Và KÌNH ĐÀ như ta thấy đâu phải là Sát Tinh.

Một số câu phú liên quan:

KÌNH DƯƠNG phùng LỰC SĨ. Lý Quãng nan phong

BẠCH HỔ kiến TƯỚNG QUÂN. ĐÀO TIỀM kiêm ấn

Ông Lý Quãng đắc ý, tự mãn, kiêu ngạo mà bị người ta ghét, chỉ có thế thôi. Ông Đào Tiềm khéo bày tỏ (Bạch Hổ) và biết thương yêu, chăm sóc người (Tướng Quân) xứng đáng làm tướng lãnh.

DƯƠNG NHẬN hãm tu bì thiết, miếu vượng tu nhi hào kiệt dương danh

CƠ LƯƠNG lâm thủ thiện đàm binh, Tuất cung tị nhi văn chương quán thế

Kình hãm có màu da thiết bì (màu xanh tái). Kình vượng tu mi nam tử oai hùng hơn, dễ nổi danh hơn. Hãm hay vượng là do cát tinh tụ tập vào đó nhiều hay ít. Câu Cơ Lương đã giải thích trong bài “ĐƯỜNG PHÙ”

Chích Hỏa (cung Tị ) phần THIÊN MÃ bất nghi viễn hành

Thốn Kim (cung Dậu) ám KÌNH DƯƠNG phản hiềm tao khốn

Chích Hỏa là cung Tị đốt cháy phương tiện, không nên đi xa.

KÌNH tại Dậu dễ gặp nguy hiểm, tức tuổi Canh gặp cách nầy. Kinh nghiệm Đại hạn đến Dậu cung rất xấu. Mặc dù không phải tuổi Canh nhưng Đại Hạn của ta, tại cung Dậu gặp năm Canh có lưu KÌNH là đã thấy xấu. Vì tuổi Canh có bộ Kình Hà Sát rất độc. (Cần an lại sao Lưu Hà cho đúng, tuổi Canh HÀ tại Mão). Cho nên còn có câu:

“KÌNH DƯƠNG đối thủ tại Dậu cung.

Tuế diệt DƯƠNG ĐÀ Canh Mệnh hung.”

Câu nầy còn khẳng định KÌNH xung, tức MỆNH Hạn tại cung Mão cũng nguy khốn. Vào năm Canh tại đây có bộ KÌNH HÀ (vắn tắt là Chống đối và hà hiếp mà nên chuyện)

KÌNH HÌNH cư ngọ đồng gia. SÁT KIẾP lai chiếu ắt là ngục trung

SÁT tức là THẤT SÁT, KIẾP tức ĐỊA KIẾP. Chứ không phải sao KIẾP SÁT. Vì KÌNH tại Ngọ không bao giờ gặp sao KIẾP SÁT. Bộ KÌNH HÌNH bên hăm dọa, gặp kình chống. SÁT KIẾP chủ cướp đoạt. Chừng ấy yếu tố cũng thấy tai họa ngập đầu. Trường hợp nầy tương đối ít gặp.

KÌNH DƯƠNG Tí Ngọ Mão Dậu phi yểu chiết nhi hình thương.”

Đây là câu phú nói quá đáng khiến nhiều người lo lắng, trừ trường hợp có thêm nhiều Hung, Sát tinh mới gây yểu, hoặc bị thương tật.

KÌNH DƯƠNG cư Ngọ ‘Mã đầu đới kiếm’ chấn ngự biên cương.”

Cách Kình cư Ngọ có mã đầu là các tuỏi Bính (Tý, Thìn, Thân) mới hay. Thực chất nhờ sao PHƯỢNG CÁC, các tuổi Bính còn lại không được.

KÌNH tứ mộ MÃ triều lai. Biên cương ắt hẳn ra tài võ công.”

Có giá trị khi có con THIÊN MÃ hội họp như tuổi Kỷ (Tị DậuSửu)… Đồng nghĩa với thời bình ở vùng sâu, vùng xa.

KÌNH DƯƠNG nhập miếu phú quí thanh dương.”

Dĩ nhiên một Kình tốt đẹp là đắc ý toại lòng, danh vang khắp nơi.

KÌNH ĐÀ LINH HOẢ phùng cát phát tài phùng hung tắc kị.”

Câu nầy minh chứng cho luận thuyết. Mọi sao đều có thể tốt đẹp khi gặp Cát tinh. Cả 4 sao nầy thực chất không phải là Sát tinh.

KÌNH ĐÀ LINH HOẢ thủ Thân Mệnh yêu đà bối khúc trận trung vong.”

Câu nầy nhuốm màu bi quan cho mọi người có nó. Ít nhất là có thêm KHÔNG KIẾP hoặc KỴ HÌNH mới đưa đến gảy lưng, thương tật ở lưng như gù lưng và chết trận. Ls Chiến Binh tử trận bị cách trên tại cung an THÂN.

KÌNH DƯƠNG HOẢ TINH uy quyền xuất chúng.

Đồng hành THAM VŨ uy yểm biên di.”

Bộ KÌNH HỎA nếu được HỎA TINH đắc là ngọn đuốc soi đường đưa lên cao để mọi người đi theo, đồng thời là dấu hiệu của chiến thắng.

KÌNH ĐÀ xâm chiếm Mệnh viên. Nói năng loạn thuyết những phường điêu ngoa

Câu nầy dễ gây bất mãn cho một số người có KÌNH ĐÀ tại MỆNH, chắc chắn được viết bởi người mặc cảm với bộ sao nầy. Bởi KÌNH chống đối, và ĐÀ hướng dẫn lôi kéo. Người viết dẫn chứng câu nầy không ngoài mục đích đưa ra các quan niệm của người xưa. Chứ không ủng hộ câu mói nầy. (ông Nhất Linh biết được, đạp cho một cái mà chết). Câu phú quá võ đoán. Ngoài ra còn có câu:

PHỦ ĐÀ TUẾ đóng Tị cung. Thiềm ngôn loạn ngữ nói rông tháng ngày.”

Câu nầy nghe có lý hơn. Vì PHỦ khi xấu là cả vú lấp miệng em, lại có THÁI TUẾ giỏi ngôn ngữ, thêm ĐÀ LA khéo dẫn dắt câu chuyện thành ra tha hồ nói.

VÀI BỘ SAO QUAN TRỌNG Liên quan đến KÌNH DƯƠNG ĐÀ LA.

VŨ KHÚC KÌNH:

* Chủ tranh công, còn chủ tranh giành tài sản.

Đi với Cát tinh, HỈ tinh chủ Kinh tế, Tài chính đi lên, phát triển. Khoe của, sớm có của... Bước ngoặc đi lên, lên hương.

Nếu có thêm CÔ QUẢ ứng hợp với câu:

“VŨ KHÚC DƯƠNG ĐÀ kiêm QUẢ TÚ vị tiền nhi nguy”, vì tiền mang hoạ. Đây là hậu quả của việc tranh chấp tài sản.

* Vũ lực, chống nhau bằng vũ lực. Nhất là có KIẾP SÁT.

* Thượng võ. Lên võ đài hoặc tinh thần thượng võ nếu có LINH HỎA.

" VŨ KHÚC KIẾP SÁT hội KÌNH DƯƠNG, nhân tài trì đao" (người có tài dùng gươm dao) còn là.

“ VŨ KHÚC KIẾP SÁT hội KÌNH DƯƠNG. Sát nhân bất biếm nhãn”. Giết người không gớm mắt.

Đi với bại tinh như cách KÌNH HƯ là. Khó khăn về tài chính.

Chú ý đây chỉ là gợi ý để luận đoán cụ thể với cách VŨ TƯỚNG rất ngại gặp KÌNH DƯƠNG….

ĐÀ LA HOÁ KỊ:

Bộ NH Ị ÁM nếu thấy THIÊN DIÊU tạo thành bộ Tam Ám.

Ta thường nghe ‘kỳ đà cản mủi’ và ta lo sợ không dám đi tiếp. Nếu thấy con kỳ đà nên bắt, đặc sản quán nhậu nhưng thấy Kỵ Đà trên TỬ VI thì bắt nó không được đâu, nó bắt bạn thì có. Cách Kỵ Đà trong TỬ VI nổi tiếng đến nổi gây ra ngộ nhận trút lên đầu con kỳ đà. Và nó hình thành trên lá số, bạn cũng bị ngộ nhận như con kỳ đà, thôi thì hãy thương nó đi vì hoàn cảnh nó như ta vậy.

* Chủ: Ngăn Cấm. Cấm đoán và cản trở. Ngăn sông cấm chợ, cấm vận… Và từ đó tài năng khó mà phát triển. Ví dụ: Vi tính ư? Có tạo ra tiền bạc đâu, có tốn điện thì có, lại nghe nói dễ hư lắm, khó sử dụng và con kỳ đà nầy cản mũi tất khó thấy vi tính, chấp nhận thiếu kiến thức về vi tính. Đó là một ví dụ nhỏ thôi, khi hình thành bộ KỴ ĐÀ tại MỆNH, coi như cuộc đời đã nhúng chàm. Nếu có thêm DIÊU đui mù góp ý nữa là họa vô đơn chí.

* Chủ: Ghen ghét, nghi ngờ và cản trở. Từ những ghen ghét, ganh tỵ, không muốn người khác hơn mình, đa nghi kếp hợp với ĐÀ ra sức cản trở, ngăn cản… Từ bằng lời nói đến bằng hành động. Có đi chắc chắn cũng không đi được, không có phương tiện nếu có nó lăn đùng ra cản.

Khi bị con mắt KỴ ĐÀ nhìn vào rồi, dù vô tư dưới mắt họ bạn vẫn kẻ đáng nghi ngờ.

* Còn chủ chê bai (ghen ghét, cản trở….) sau lưng (dễ hiểu là bị nói xấu sau lưng). Kỵ Đà đáng sợ như vậy có sao nào hóa giải không? Chỉ có duy nhất HÓA KHOA trường hợp đó ta có thể gọi là lời “khuyên can”.

DIÊU ĐÀ KỊ:

Bộ Tam ám. “DIÊU ĐÀ KỊ kế, giao hoạ vô đơn chí”. Ba sao này giao hội với nhau hoặc đứng liền nhau, hoạ đến liên tiếp. Ba sao này được mô tả là bộ sao xui xẻo nhất, như bị hớp hồn. Kị nhất là gặp bộ NHẬT NGUYỆT tất cả chính tinh khác. Tuy nhiên mức tác hại còn tùy thuộc vào DIÊU có đắc địa hay không, nếu có (chủ còn sáng suốt không mê muội), đỡ hung họa chỉ còn giá trị như Nhị Ám.

KÌNH DƯƠNG HOÁ KỊ:

Chủ các điều sau.

*Tiếng khen chê (nếu có cát tinh). Chê bai và chống đối. Chê bai trước mặt.

* Cấm chống đối. Nghi ngờ và chống đối. Ghét mà chống đối.

* Đố kỵ (nghi ngờ, ghen ghét…) và chống đối. Dậy lên nỗi hoài nghi…Đố kỵ và kình chống.

Bộ KÌNH KỴ vốn phức tạp lại thêm HỎA TINH tạo thành bộ 3 sao. Với các bộ KỴ HỎA, KÌNH HỎA theo đánh giá của câu phú là:

KÌNH DƯƠNG, KỊ, HOẢ một loài. Hãm mà thủ Mệnh ấy loài ác tinh.”

KỴ HỎA KÌNH vì ghét ghen nổi cơn giận làm điều xấu.

Bài Kình Đà là bài khó viết như tên gọi của nó. Người viết chấm dữt nó tại đây. Nếu không ĐÀ LA lôi kéo đi sâu nữa biết bao giờ hết. Để có thì giờ trả lời một số câu hỏi có tính phức tạp của các bạn.

Tình Yêu và nỗi lo sợ

Đăng ngày: 00:02 29-05-2009

Bạn có bao giờ nghe bài hát Khi Đã Yêu.

Khi đã yêu thường mơ mộng nhiều/ Mơ ngày mai pháo nhuộm đường vui/ Mơ vành môi thơm ngát hương đời/ Tình kia phong kín mây trời/ Khi yêu riêng một người thôi.

Từ vị trí TƯỚNG QUÂN (thương yêu quấn quít) luôn luôn có QUỐC ẤN đồng cung hoặc tam hợp. Mà QUỐC ẤN chỉ là ấn tượng, cái mà ta vẽ ra trong đầu mà thôi, cái ta tưởng tượng là pháo nhuộm đường vui, là vành môi thơm ngát hương đời, và yêu chỉ một người thôi… QUỐC ẤN + TƯỚNG QUÂN là tiếng sét ái tình càng mạnh nếu như gia thêm KHÔI VIỆT.

Khi đã yêu thường lo sợ nhiều/ Lo chiều thôi nắng nhạt màu tươi/ Lo niềm tin chưa thắm tim người/ Tinh kia thêm vỡ tan thôi/ Đêm đêm ngấn lệ đầy vơi.

Và vì sao khi yêu ta thường lo sợ, vì từ vị trí TƯỚNG QUÂN ta luôn luôn có BỆNH PHÙ, một sao chủ lo toan, lo lắng, lo con… bò trắng răng. Một ngôi sao hay lo (thậm chí có người, bây giờ lo nghĩ tương lai về sau, không biết có tiền không để nuôi bọn tử đệ hay không. Tồi tệ nhất MỆNH có THIÊN PHỦ (ngôi sao cẩn thận) gia thêm BỆNH PHÙ (lo xa).

(Lo trời mưa ướt áo người yêu, Lo trời hanh phai nhạt mỹ miều. Lại lo không có tiền tiêu. Lấy chi để đãi người yêu… Thì ăn bắp nướng nè, uống trà đá.. không đường… hôm nay anh quên đem tiền theo, quá dễ, dễ òm. Thế mà không nghĩ ra)

Nếu đứng từ vị trí TƯỚNG QUÂN thì cũng có lo toan vu vơ nhưng in ít thôi. Nhưng từ vị trí BỆNH PHÙ nỗi lo toan nặng nề hơn vì ngôi sao này dễ bị xúc phạm, dễ đánh mất tình yêu. Đứng từ vị trí LỘC TỒN thì tình yêu vẫn tồn tại đó, ít lo toan hơn nó chủ sự tồn tại. Một nỗi lo BỆNH PHÙ không biết tồn tại hay không và TƯỚNG QUÂN vẫn còn quấn quít.

Và trong các văn phẩm khi đề cập đến tình yêu các nghệ sỹ luôn luôn, đưa vào hình ảnh ngày và đêm (Âm Dương) một cách vô thức như nắng nhạt màu tươi, đường xa ướt mưa, đêm nay em về, đêm tình yêu, đêm buồn tỉnh lẻ, ngày em đến, ngày ấy chúng mình… Âm Dương là hình tượng ngày và đêm cũng là Trai và Gái , Nam và Nữ. Nếu có TƯỚNG QUÂN tại đây là rất đẹp, càng hay hơn khi có Đào Hồng Hỉ, Chủ sự “vui mừng loan báo là chọn được”… người yêu, cái vui mừng đó có khi là được thi đỗ, được chọn trường, được đi làm, được đứa con đầu tiên ra đời, được lên quan, lên chức… Vì Đào Hoa chủ sự ồn ào vui vẻ, Hồng Loan la to loan báo rằng, Thiên Hỉ thiên về chuyện vui mừng. Từ bất cứ lá số nào ta cũng tìm thấy được ít nhất có một vị trí có bộ tam Minh này. Hợp nhất là đi với bộ NHẬT NGUYỆT từ đó ta có ‘Đêm Vui’ nếu đi với THÁI ÂM. ‘Ngày Hạnh Phúc’ nếu đi với THÁI DƯƠNG. Tùy theo mức độ Cát tinh hội họp ngày hạnh phúc có khi cả thế giới quan tâm vui mừng theo. Ví dụ ngày nhậm chức của Obama… Bây giờ nhìn lại câu phú:

NHẬT NGUYỆT DƯƠNG ĐÀ đa khắc thân” Ta dễ hiểu vì sao bộ KÌNH ĐÀ (chủ chống và theo) gặp bộ NHẬT NGUYỆT (nam và nữ) gây ra rối ren vì chống lại ai đó trong gia đình, để theo trai, hay gái.

Luôn tiện nói về sự chọn lựa, trong TỬ VI các sao sau đây đều có năng khiếu về sự chọn lựa có thể đưa vào 1 nhóm là THIÊN TƯỚNG đứng hàng đầu chủ chọn lựa để tương trợ, thương yêu, để kế tục tiêp nối… công việc. TƯỚNG QUÂN cũng hưởng cách như trên. ĐÀO HOA chủ chọn lựa chung chung, bất cứ cái gì, tùy thuộc đi chung với chòm BÁC SỸ. Như bài viết ấy được tuyển chọn không? Mẫu thiết kế có được đem ra áp dụng không? Tôi được quyền chọn lựa vì tôi là tổng biên tập mà… cho đến đãi cát tìm vàng, sàng lọc, đãi như đãi gạo… đều là ĐÀO HOA tuốt tuồn tuột.

THIÊN TƯỚNG tốt là được đãi ngộ tương xứng. Và nói chung tất cả 3 sao này. Khi gặp KHÔNG KIẾP thường chọn tai chọn họa cho mình. Ví dụ Đào Kiếp là chọn lấy tai họa, là tạo ra tai họa vì Đào chủ tạo ra. Từ đó, thay vì chọn theo ta lại chọn chống, chọn A ta lại chọn B, chọn trúng ta lại chọn sai… THIÊN TƯỚNG và TƯỚNG QUÂN cũng vậy kẻ tốt không thương lại thương kẻ xấu.

Trở lại Khi Đã Yêu nếu TƯỚNG QUÂN là kẻ yêu. PHỤC BINH là kẻ được yêu. Trong Tình yêu thì kẻ được yêu, và kẻ yêu ai là người sung sướng? PHỤC BINH là kẻ sung sướng vì y được nâng niu chiều chuộng, vì TƯỚNG QUÂN là kẻ chọn lựa PHỤC BINH.

Chúng ta lại nghe tiếp.

Chớ nói tình yêu/ bằng chót lưỡi đầu môi/ bằng khóe mắt xa vời/ Thì dẫu sau này nên câu luyến ái/ ân tình còn ghi mãi mãi / Hương thề trọn kiếp không phai.

Bao ước mơ còn trong đợi chờ/ Cho nghìn sau nối lại nghìn xưa/ Cho nguồn yêu dâng đến tim người/ Ngày vui 2 đứa chung đôi/ Khi yêu yêu 1 người thôi.

Chót lưỡi là HÓA KỴ. Đầu môi là CỰ MÔN. Thật tài tình cứ y như tác giả là nhà nghiên cứu TỬ VI. Vì TƯỚNG QUÂN ngộ CỰ MÔN tức hình thành bộ CỰ LỘC TỒN (CỰ phùng Tồn Tú cát dả tàng hung) Nếu có KỴ tức tức cũng hình thành cách TỒN KỴ (tồn nghi cách, sự nghi ngờ vẫn còn có đó, cũng thuộc cách Cát xứ tàng hung). Rõ ràng tác giả khuyên ta không nên yêu đương trong tình huống ngộ CỰ, ngộ KỴ. Trong một số tuổi từ vị trí TƯỚNG QUÂN ta còn bắt gặp LƯU HÀ (Đinh Kỷ Quý đối với nam) LƯU HÀ chủ sự lưu lại, khắc sâu vào… đi với LỘC TỒN thành cách, Tồn Lưu cách cất giữ lại, phù hợp hoàn toàn với 3 tuổi kể trên ân tình còn ghi mãi mãi

Sự lạ kỳ còn tiếp tục. Bao ước mơ còn trong đợi chờ Cũng 3 tuổi kể trên từ bị trí TƯỚNG QUÂN luôn luôn có LỰC SỸ lục hội. Bên này yêu thương thì phía lục hội lại đợi chờ. Phía kẻ đợi chờ vì phía bên kia kẻ yêu thương.

Rõ ràng tác giả bài hát phải là người có 1 trong 3 tuổi kể trên, mô tả chính xác như vậy, và chắc chắn không biết TỬ VI là gì. Chỉ cảm nhận được mô tả lại những gì mình thấy trong lòng mình qua tiểu hạn TƯỚNG QUÂN.

Là người tuổi Kỷ khi nghe bài hát này không khỏi ngạc nhiên và đợi chờ đến ngày báo hỉ ở phối cung là thành vợ thành chồng. Đáng tiếc không rõ tác giả là ai. Bài người viết đang nghe là ca sỹ Cam Ly hát..

Viết nhân ngày Đoan Ngọ vì bài CƠ LƯƠNG Sửu Mùi không thể hoàn thành kịp.

TRẦN NHẬT THÀNH (bản chỉnh sửa vì bản cũ không thấy sao THIÊN KHÔNG, của bộ Không Kiếp) và các tính năng mới.

Mến chào các bạn,
Ngày 28/05/2009, trình tử vi ứng dụng được cập nhật với một vài chỉnh sửa và thêm tính năng mới như sau:
- Có thể copy bình chú.
Cách sử dụng: khi rê chuột vào sao, lời bình cho sao đó sẽ hiển thị trong khoảng 30 giây (lúc này lời bình chưa được copy). Khi bạn nhấp chuột trái (hoặc phải) và sao đó lần nữa, lúc này lời bình của sao đó đã được copy vào bộ nhớ của Windows.
- Thêm phần Tra Cứu Âm Lịch VN vào Công Cụ.
- Sửa một vài lỗi nhỏ khác.
Mời các bạn tải về theo địa chỉ cũ:
Chào thân ái!

TÌNH YÊU và NỖI LO SỢ.

HiTLER đi bán kem

Đăng ngày: 22:11 06-06-2009

Đây lá số người này (Hitler) con đoán thử bác xem, từ đó bác đánh giá trình độ của con để hướng dẫn cho tốt.

Cô bé THIÊN ĐỒNG sau một hồi ngẫm nghĩ lên tiếng:

Người nầy Thân Mệnh đồng cung người ngắn một khúc

Đúng đấy.

Tội lắm, cô thân độc ảnh, một mình một bóng, lẻ loi đơn chiếc, phòng không chiết bóng, vào ra một mình…

Đại loại nói là dễ độc thân đi.

Từ đấy người đàn ông này đi bán hàng rong, kiếm sống. Cụ thể bán cà rem, bán báo…

Mà sao con biết bán báo hay vậy?

Thưa Tiên Sinh…

Gọi chú, bác được rồi vẽ chuyện.

Có lạ lùng gì đâu. Có XƯƠNG KHÚC là thứ văn tinh không bán báo lấy gì kiếm sống. Lại có Hóa Lộc đích thị là bán báo phát sinh tiền của tức có lời đấy ạ. Minh chứng hùng hồn nhất có KHOA QUYỀN lại hay vào ra nơi chốn quyền quí để bán báo

Này cháu. Mấy chỗ đó, bác nghĩ khó vô bán báo, bán vé số lắm đấy. Con căn cứ vào đâu mà đoán vậy?

Phú Hán có câu: “THAM tú toạ nhi phùng HOÁ KỊ đạo ngoại hành thương” tức là trên đường buôn bán. Tức là bán hàng rong…

Thế thì XƯƠNG KHÚC KHOA QUYỀN LỘC thì sao?

Đó là hình ảnh người này thấy thôi, với XƯƠNG KHÚC là báo chí, đi ngang qua những ngôi nhà quyền quí.

Thôi được, đây là người Nhâm Thân (Vua Quang Trung) cũng có cách VŨ KỴ ở Thìn Tuất, Thân người này cũng có cách THAM KỴ con đoán hạn này sao.

Cho phép con giới thiệu vài nét về người này.

Quá tốt.

Thưa bác, người này ưa soán đoạt, đại đoạt, có mưu trí, có mộng làm giàu, có mộng làm quan

Đúng rồi.

Nhưng thuở thành niên qua hạn KHÔNG KIẾP mọi sự không thành, không chết là may. Tiếp đến hạn VŨ KỴ phải đạo ngoại hành thương. Con dám quả quyết là bán những đồ liên quan đến ăn cắp, ăn trộm… không chừng đồ này do soán đoạt mà có. Có sao TANG MÔN đây rồi không thể chối vào đâu được.

Còn đừng quên người này có KHOA QUYỀN tại MỆNH.

Đó là điều có lợi cho lập luận của con đấy. Khi soán đoạt chẳng lẽ đi soán đoạt người nghèo, phải là người giàu.

Con giàu tưởng tượng quá nhỉ?

TỬ VI mà không tưởng tượng sao được bác? Năng khiếu bẩm sinh thiên phú để đoán số

Tử Vi không cần sự tưởng tượng vớ vẫn như thế. Cần sự phân tích, rồi tổng hợp sau đó đưa ra nhận xét. Con đoán cung Thiên Di người này (lá số Khổng Tử) xem.

Dễ thôi mà. Thiên Di Hóa Kỵ ra ngoài. Kẻ thù người oán chẳng ai yêu mình. Người này bị mọi người căm ghét thấu xương tủy.

Đúng vậy kẻ xấu, kẻ bất lương coi ông ta như kẻ thù, thậm chí đền đài miếu mạo đập tan tành.

Đó con đoán có sai đâu mà.

Đó là bác trắc nghiệm con đoán về sao HÓA KỴ, còn đây bác trắc nghiệm bộ KÌNH ĐÀ. Đây lá số (Nhất Linh) có KÌNH DƯƠNG tại MỆNH.

“Phi yểu chiết nhi hình thương”, rồi “Mã đầu đới kiếm” thêm “Kình Đà xâm chiếm MỆNH viên, Nói năng loạn thuyết những phường điêu ngoa”. Chắc là tệ hơn cả Hóa Kỵ cư Di, chết đi thiên hạ được nhờ

Đúng rồi ông ấy tự tử đấy.

Đó con đã nói tất đúng. Sai là thiên hạ sai. Quân ta nhất định đúng, quân địch nhất định sai. Nếu sai: Ta không sai, địch không đúng.

Còn hô khẩu hiệu gì nữa không?

Thưa bác con thấy TỬ VI dễ òm, thuộc một số câu phú là đoán được thôi. Cần gì phải nghiên cứu nhiều năm, mà những cái đó người ta đã nghiên cứu rồi, đặt thành thơ thành phú, cứ thế cột vào… Trai bất nhân PHÁ QUÂN Thìn Tuất. Nữ bạc tình THAM SÁT Dần Thân. Bác nghe câu đó chưa?

Nghe từ hồi con chưa đẻ cơ! Bác trắc nghiệm ngôi TỬ VI (Nguyễn Thái Học) của lá số này.

Ồ. TỬ VI ngộ KHÔNG KIẾP con nhớ ra rồi: “TỬ phùng KHÔNG KIẾP hiểm gian. Hoặc là tứ Sát trong làng gian phi”. Người này lòng dạ nham hiểm, mà sao TỬ VI nó nó nó… hay cầm đầu chỉ huy, vua chúa hay có lắm kìa, đích thị tên đầu đảng

Đầu đảng là không sai.

Đã nói tất thị đúng. Đã phán tất thị không sai. Là tên cầm đầu nguy hiểm cho xã hội cần phải tiêu diệt.Mà THẤT SÁT lâm Thân chung thị yểu chắc không thọ lắm đâu.

Đúng rồi. Tụi Pháp cai trị ngày xưa chắc cũng nói như cháu vậy. Luận điệu tuyên truyền y hệt như vậy.

Như vậy nghĩa là sao bác?

Nguyễn Thái Học dưới cặp mắt của Pháp đích thị là nguy hiểm cho nó.

Người này là anh hùng Nguyễn Thái Học?

Đích thị, không sai. Còn người bán cà rem là ai con biết không? Là Hitler đấy.

Tại sao ông ấy lại bán cà rem?

Chính con nói bán cà rem chứ có phải bác đâu. Nhưng muốn ông ấy bán cà rem, ta phải loại trừ các sao sau đây tại MỆNH cung, vẫn cho ông đứng ở cung Thìn nhưng không có XƯƠNG KHÚC, KHOA QUYỀN LỘC, theo cháu ông ấy bán cà rem được chưa?

Chắc được rồi, giờ không tiền bạc gì hết bán kem thôi.

Bậy nào. Sao VŨ là sao tài sản tự nó là tiền của. Tại đây còn có cách Thanh Kỵ bên ngoài có KHÔI VIỆT phải lấy hết bộ này nữa, nếu không vẫn còn cách nổi danh. Ưu thế tuổi Kỷ Sửu nằm tại đây. Ta thêm vào cho ông một THIÊN KHÔNG tại MỆNH tức đồng thời Phúc Đức cung có ĐỊA KIẾP. VŨ của ông ngộ Không, ngộ Kỵ, LINH. Phúc Đức cung ngộ Kiếp nạn nhưng coi chừng ông không chịu đi thì sao, nên cho thêm LƯU HÀ tại Thiên Di hay Quan lộc để ông ta dễ chuyển động, cũng cần thêm một sao rao hàng là Hồng Loan la to để có người biết mà mua cho ổng. Từ Thiên di cung nhìn về có bộ KHÔNG KIẾP HỒNG HÀ là thấy tội cho ông ấy rồi. Nè cháu, có muốn ông ấy bán kèm ma túy để tăng lợi nhuận không nhỉ. Bây giờ hình thành cách mới THIÊN PHỦ ngộ Không phú ông phát hành khất.

Bác ơi! Hình như ông Hitler là người kỳ tài phải không bác?

Ông ấy không tài thì ai mới xứng đáng gọi là tài. Vũ là tài, Kỵ chuyển hóa thành “kỳ” trong trường hợp này. Không những sao VŨ mà các sao tài năng khác như THIÊN CƠ, THIÊN LƯƠNG, THIÊN ĐỒNG cũng chuyển hóa thành kỳ như cụ thể Đức Khổng Tử, sao mà ngây thơ thế. Đoán như con, các nhà làm phần mềm làm game chơi cũng đoán được. Như trường hợp Quang Trung là thời kỳ lập nên nhiều “kỳ công” đó. Nhưng cũng hạn đó, với con bác đành đoán là con lập nên nhiều câu chuyện kỳ cục, kỳ dị, kỳ quái…

Vì sao vậy bác?

Ít ra con cũng tương đương với THẤT SÁT của Quang Trung ví dụ PHÁ QUÂN Tý Ngọ Đại Hồng hoặc ĐẠI KHÔI Quyền, tới đó mới lập nên kỳ tích cháu à.

Sao phức tạp vậy bác.

Có phức tạp như vậy mới luận đoán. Cả trăm năm chưa xuất hiện bậc kỳ tài trong làng TỬ VI. Con có biết vì sao:

“THIÊN ĐỒNG Tuất cung HOÁ KỊ. Đinh nhân hoá cát chủ đại quí”

Thưa bác nếu đại quý con kết luận đại quí thôi ạ.

Như vậy chẳng bao giờ tiến bộ được con ạ. An tứ Hóa chữ Đinh ta có: Nguyệt Đồng Cơ Cự như vậy chữ Đinh, THIÊN ĐỒNG hóa thành Quyền Tinh, có KỴ xung từ chữ CỰ hình thành bộ KỴ QUYỀN, được quyền cấm đoán. Cũng như câu:

“Tân nhân tái ái CỰ MÔN nhược lâm tứ mộ hạnh phúc cứu mệnh chi tinh”. Chữ Tân an tứ hóa là CỰ DƯƠNG KHÚC XƯƠNG. Vậy thì CỰ hóa thành LỘC, vậy thì tha hồ cãi chày, cãi cối hóa thành tiền của. Nếu CỰ hóa khí thành KỴ có nên cãi không nhỉ?

Thưa bác không ạ.

Ai mà chẳng biết CỰ ĐỒNG ở Thìn Tuất không hay, cho là lạc hãm. Vậy thì khi đã hóa khí thành Quyền, thành Khoa, thành Lộc thì hãy nhìn vào đó mà luận đoán. Dù có cho là đắc ý, đắc lợi, đắc địa như nhà ở mặt tiền (nhưng chắc gì làm ăn được, càng làm càng thua lỗ) chuyển hóa thành Kỵ gia thêm Hình là vi phạm pháp luật, hoặc gia Kiếp tức bị ghét lại thêm ức hiếp… tồi hơn là bị thất lợi chẳng có hóa khí nào cả. Khi ta nhìn một ngôi sao nhìn lên chính tinh ai chỉ huy nó nhìn ngang ai hỗ trợ nó, tìm lại có phá cách gì không.

Kỵ là ghét, cấm là ganh tị. Nhưng không phải bao giờ Kỵ cũng là cấm, có khi là đừng, là khuyên răn, là khuyến khích mà chẳng phải bao giờ bị ghét bị ganh tị là xấu, chỉ người có tài mới bị ganh tị, ai đi ganh tị với kẻ bất tài vô tướng làm quái gì, ai đi ganh với người nghèo để được nghèo hơn, đi ganh với kẻ xấu để được xấu hơn. Có người than rằng: Ông ấy chẳng thèm ghen, chứng tỏ không thương tui rồi.

TỬ VI là cần một cái nhìn tổng hợp rồi phân tích, tái tổng hợp tái phân tích sau đó mới kết luận. Nghe thì khó khăn. Như Kỹ Thuật số phân tích tấm ảnh thành điểm ảnh chuyển thành số, từ số tái tạo điểm ảnh, kết hợp thành hình ảnh nghe chừng như quá phức tạp. Nhưng lâu ngày thành quen. Nhìn CỰ MÔN tìm cái gì, cái gì để kết luận CỰ MÔN ấy xấu tốt. Cũng như nhìn TỬ VI cần gì, thiếu gì, đủ gì kết luận cái rẹt.

Vậy thì cháu nên đội mũ bảo hiểm khi luận đoán TỬ VI cho người.

Sao vậy bác?

Còn phải hỏi. Tốt nhất nên học đi.

Bài viết kỳ tới là TỬ PHỦ Dần Thân

LƯU HÀ

Đăng ngày: 22:00 01-07-2009

LƯU HÀ.

Bửu Đình viết ngày 1 tháng 7 năm 2009.

An theo hàng can. Đây là sao có nhiều cách an khác nhau.

Giáp an tại Dậu. Ất an tại Tuất. Bính an tại Mùi. Đinh an tại Thân. Mậu an tại Tị. Kỷ an tại Ngọ. Canh an tại Mão. Tân an tại Thìn. Nhâm an tại Hợi. Quý an tại Dần.

CHỦ CÁC ĐIỀU SAU ĐÂY:

MÀU VÀNG:

Nằm trong nhóm sao màu sắc. LƯU HÀ chủ màu vàng. Màu vàng tượng trưng cho sự quý phái, bất ngờ và sự dài lâu. BẠCH HỔ màu trắng. THANH LONG màu xanh, HỒNG LOAN màu đỏ. ĐẠI HAO màu đen. Trong đó 2 sắc màu gặp nhau phức tạp là HỒNG LOAN gặp THANH LONG. Nếu thấy màu vàng tốt nên chọn màu vàng dùng để trang trí, nếu xấu tức là đi với Hung tinh nên tránh dùng màu vàng.

HÀ KHẮC, HÀ HIẾP, KHẮC BẠC:

Thường xuyên kết hợp với KIẾP SÁT tạo thành bộ HÀ SÁT chủ hà hiếp, ức hiếp... Là đàn em cho các sao ĐỊA KIẾP, THẤT SÁT. Trên lá số bất kỳ ta luôn luôn tìm thấy đủ bộ sao này. Ví dụ tuổi Giáp Tý bộ Hà hiếp tại 3 cung Tị Dậu Sửu, tuổi Kỷ Sửu tại 3 cung Dần Ngọ Tuất. Trong trường hợp này có tính nhỏ nhen.

LỖI, CÓ LỖI:

Nằm trong nhóm sao lỗi lầm sai trái. Đi với CÔ THẦN có tội, đi với PHI LIÊM tăng thêm sai trái, đi với THẤT SÁT sai lầm thêm lỗi lầm. Trong đó LƯU HÀ chủ có lỗi. Xin lỗi nhé đó là câu chúng ta thường hay nói. Và chúng ta xem tiếp tha thứ cũng là LƯU HÀ. Nhưng lỗi lầm, tội lỗi, sai trái không thể tha thứ được khi có KỴ HÌNH.

THA THỨ, KHOAN HỒNG, CHỊU ƠN AI ĐÓ, ĐỘI ƠN:

Đi với cát tinh chủ tha thứ, khoan hồng dầu sao thì chúng ta cũng biết LƯU HÀ chỉ là lỗi lầm. (So với sai trái của PHI LIÊM, so với cố ý của CÔ THẦN.). Cần gặp HỒNG LOAN tạo thành cách khoan hồng nhưng cũng cần đi với Cát tinh chứ đi với Hung tinh cũng vô dụng.

Ba cái để tha là Tam Xá ngày xưa áp dụng. Tha vì còn nhỏ, tha vì già nua, tha vì ngu si. Tha thứ vì ngu si. Có một dạo cứ ra toà khai mới học lớp 2 để được khoan hồng và bây giờ vẫn còn hay được dùng là không nghe, không biết, không thấy để chuyển thành cách ngu si để được tha thứ.

HÀ CỚ VÌ SAO? BẤT NGỜ:

Thuộc nhóm sao bất ngờ

LƯU HÀ là dấu hỏi trên lá số TỬ VI. Hà cớ vì sao bị mất, bị lưu giữ, bị đổ máu...Nhất là khi gặp THẤT SÁT, CỰ MÔN, THIÊN KHÔNG, PHI LIÊM...tính bất ngờ rất mạnh mẽ

CỰ MÔN: Chủ chẳng ngờ có vậy mà phản đối, ly tán, chia ly, đi xa

THẤT SÁT: Chủ sự thất kinh liên quan đến sự mất và được. Không ngờ bị mất, không ngờ mà được

THIÊN KHÔNG: Chủ không ngờ, cái mà ta tin tưởng nhất không thể xẩy ra thì nó lại xẩy ra

LINH TINH: Bất ngờ đến rụng rời chân tay tưởng chừng như trời đất sụp đổ. Một tin tức không may, một lịnh lạc không mong đợi

PHI LIÊM: Chủ bất ngờ thiên về thị phi tự nhiên từ đâu bay đến, tự nhiên vô cớ cải cọ. Nó cũng hoàn toàn bất ngờ từ đâu mà đến không biết một dị vật rơi trúng ta một hòn đá, một nhát dao, một viên đạn cho đến một HOẢ tiễn to đùng, quả bom ngàn tấn.

LƯU HÀ: Hà cớ vì sao? là một dấu hỏi to đùng. Nó thất lạc ở đâu? Nó còn hay mất? Tại sao tôi phải đi? Tại sao lại giữ tôi lại? Ủa chỉ thế mà đổ máu? LƯU HÀ là ngôi sao gây bất ngờ vui buồn tuỳ thuộc vào Hung Cát tinh tụ tập để luận đoán.

LƯU CHUYỂN, LƯU LẠC, CHUYỂN ĐỘNG, PHIÊU BẠT

LƯU HÀ chuyển động khi gặp nhóm THANH PHI PHỤC tạo thành cách người viết đặt là “rồng chuyển động”. Nhất là đi với các chính tinh VŨ KHÚC, THAM LANG, THIÊN ĐỒNG CỰ MÔN. Đi với KHÔNG VONG chủ lưu vong.

Kết thành bộ VIỆT ĐÀO HÀ tạo ra sự chuyển động. Nhưng LƯU HÀ còn mang ý nghĩa ngược lại bị giữ lại, bị lưu lại, bị ép buộc không được đi, hoặc bị ép buộc phải đi đến nới không mong muốn như bị lưu đày.

VƯỢT THOÁT:

Thuộc nhóm sao vượt thoát trốn chạy.

Đi với THIÊN VIỆT chủ vượt thoát như vượt ngục, thoát vòng vây của địch, thoát khỏi nơi giam cầm.

Đi với VONG tinh chủ đào vong...

Đi với PHỤC BINH trốn chạy

LƯU HÀ chủ sự bôn tẩu, chạy.

LƯU LẠI, GiỮ LẠI:

Đi với nhóm sao bắt giữ là PHÁ QUÂN dễ bị lưu giữ, giam cầm. Bị lưu ban không được lên lớp. Bị lưu lại không được đên nới mình thích, đang du chuyển bị giữ lại...

CÒN LẠI, LƯU LẠI…

Như còn lưu lại vết tích, dấu vết của vật ấy, người ấy. Người, vật không còn nhưng vẫn còn lại, lưu lại vết tích. Đây là một yếu tố rất hay từ đó đoán được nhiều chi tiết thú vị như. Tác phẩm văn chương của Nguyên Du lưu lại đời sau. Danh thơm lưu lại, lưu xú vạn niên... vì vậy lưu lại cần đi với LỘC TỒN chủ tồn trữ, đi với PHỤC BINH chủ để lại, đi với VŨ KHÚC dấu vết là hợp cách. Tuy nhiên không phải luận đoán máy móc như vậy. Ví dụ: Mỗi lần nhìn thấy vết tích trên tường là tôi thấy lòng không vui vì nhớ đến vụ ẩu đả ngày ấy. Mỗi ần sờ đến vết thương nó lại nhớ đến những ngày bị giam cầm.

GIẾT:

Tăng thêm ác tính cho các hung sát tinh như THẤT SÁT, THIÊN HÌNH, ĐỊA KIẾP, KIẾP SÁT. Chủ giết như THẤT SÁT, THIÊN HÌNH.

ĐỔ MÁU, LƯU HUYẾT. LƯU LẠI TỲ VẾT

Lưu lại tỳ vết trên thân thể do bị đổ máu bất ngờ. Lưu lại lỗi lầm trong ký ức mọi người, lưu lại trong lý lịch bản thân cho đến đời sau. Nếu tốt là lưu lại thanh danh đến ngàn đời sau.

LƯU LOÁT:

Đi với văn tinh chủ ăn nói lưu loát.

CÓ BAO NHIÊU DẠNG LƯU HÀ CƠ BẢN?

Có thể rút xuống 4 dạng căn bản thường gặp sẽ đề cập trong phần 2 của bài LƯU HÀ

LƯU HÀ ĐÀO HOA, LƯU HÀ TẤU THƯ, LƯU HÀ LỘC TỒN, LƯU HÀ THANH LONG,

LƯU HÀ khi tốt và khi xấu

KHI TỐT:

Lưu lại thanh thơm cho đời sau. Lưu lại, truyền lại cái tốt cho đời sau.

Lỗi lạc hon người. Được hưởng đặc ân, ân sủng

Gặp những bất ngờ may mắn, vui mừng

Là được tha thứ lỗi lầm, khoan hồng nếu phạm phải và tha thứ lỗi lầm cho người.

Ngôn ngữ văn chương lưu loát.

Được phiêu du, nhàn du đó đây như ý muốn. Vượt thoát khỏi vòng vây, vượt thoát được ngục tù của giặc.

Kẻ tạo ra sự vui mừng bất ngờ cho kẻ khác, đồng thời dễ gặp những vui mừng bất ngờ.

KHI XẤU:

Là lỗi lầm khắc ghi lại không được tha thư khoan hồng. Lưu lại tỳ vết cho đến đời sau.

Chẳng hưởng ân sủng còn bị hà hiếp ức chế, đổ máu thành thương tích.

Là bị lưu đầy, lưu giữ bất lợi hoặc phải phiêu bạt đó đây bất đắc dĩ.

Gặp những bất ngờ không mong muốn. Khi cần vượt thoát lại bị bắt giữ khi không muốn đi lại ép buộc ra đi

Dạng ác:

Là hà khắc, là hà hiếp kẻ yếu hoặc kẻ lệ thuộc.

Là hà hơi tiếp sức cho kẻ xấu để làm điều ác. Là bồi bút đánh kẻ dưới ngựa.

Là kẻ gây ra tai hoạ bất ngờ cho kẻ khác.

Nguồn trích dẫn (0)

Ai giết vua Quang Trung

Đăng ngày: 12:47 01-10-2009

AI GIẾT VUA QUANG TRUNG.

Phần chữ nghiêng là của người viết. Chữ đứng là trích dẫn từ các trang Web.

Trang Wiki viết.

Cho đến nay, đã có nhiều giả thuyết về cái chết của vua Quang Trung được đưa ra nhưng chưa giả thuyết nào có được chứng cứ xác thực, đủ sức thuyết phục.

Theo Hoàng Lê nhất thống chí, khi Quang Trung giả sang Yên Kinh gặp Càn Long, được Càn Long tặng cho chiếc áo, có thêu 7 chữ:

Xa tâm chiết trục, đa điền thử (車心折軸多田鼠)

Nghĩa là:

Bụng xe gãy trục, nhiều chuột đồng

Theo phép chiết tự, chữ "xa" () và chữ "tâm" () ghép lại thành chữ "Huệ" () là tên của Nguyễn Huệ; "chuột" nghĩa là năm tý (Nhâm tý 1792). Ý của dòng chữ trên áo là Nguyễn Huệ sẽ chết vào năm Tý.

Giả thiết này ý nói rằng: Nguyễn Huệ chết do áo bị yểm bùa.

Bình: Nếu chuyện này có thật. Có thể các cao thủ TỬ VI nhà Thanh hồi ấy. Đoán được năm mất của Vua Quang Trung. Chắc chắn Vua Quang Trung vốn không tin cậy nhà Thanh, đã đưa người cải trang nhà Vua qua bên ấy, cũng không dại gì mặc chiếc áo có có vận xui “Huệ bị gảy trục”, tương đối dễ phát hiện, chỉ có ba chữ sau khó hiểu, chỉ khi nào sự cố sẩy ra mới giải thích được

Sách Ngụy Tây liệt truyện, một tài liệu chính sử của Sử quán triều Nguyễn ghi giải thích cái chết của vua Quang Trung như sau:

“Một hôm, về chiều, Quang Trung đang ngồi bỗng xây xẩm, tối tăm, thấy một ông già đầu bạc từ trên trời xuống, mặc áo trắng, cầm gậy sắt, mắng rằng: “Ông cha người sống ở đất của Chúa, đời đời làm dân Chúa Nguyễn, sao phạm đến lăng tẩm...". Rồi lấy gậy đánh vào trán Quang Trung, mê man ngã xuống, bất tỉnh nhân sự lâu lắm... Từ đó, bệnh chuyển nặng..."

Sách Tây Sơn thực lục cũng có ghi "Huệ mắc bệnh nặng, chữa không khỏi...". Và sau khi Quang Trung mất, vào tháng một năm Càn Long thứ 58 (1793), Quách Thế Huân cũng báo cáo với Càn Long: "Quang Trung đã chết vì bệnh".Cũng một giả thuyết được truyền lại nhiều nhất là một buổi chiều thu năm 1792, vua Quang Trung đang ngồi làm việc, bỗng hoa mắt, tối sầm mặt mũi, mê man bất tỉnh. Người xưa gọi là chứng "huyễn vận", còn ngày nay y học gọi là tai biến mạch máu não.

Một giáo sĩ tên Longer, có mặt ở Đàng Ngoài vào những thời điểm này, đã viết trong một bức thư đề ngày 21 tháng 12 năm 1792 là vua Quang Trung chết vì bệnh, nhưng không rõ là bệnh gì.

Các nhà nghiên cứ về sau gạt bỏ các chi tiết mê tín trong Ngụy Tây liệt truyện thì họ cho rằng Quang Trung đã bị một cơn tăng huyết áp đột ngột

Bác sĩ Bùi Minh Đức qua khảo cứu các nguồn tư liệu lịch sử, kết luận rằng Nguyễn Huệ "Xuất huyết não dưới màng nhện; nguyên nhân tử vong: do viêm phổi sặc".

Trang Thu viện Bình Định viết.

Suốt hai thế kỷ qua, nhiều điều nghi vấn về cái chết của vua Quang Trung vẫn chưa được "giải tỏa" một cách thỏa đáng. Liệu khoa học pháp y ngày nay có thể mang lại lời giải thích nào chăng?
VÀI GIẢ THUYẾT
Vua Quang Trung mất vào tuổi bốn mươi, giữa lúc đang chuẩn bị thực hiện hai ý đồ hết sức lớn lao: ông dự tính mở một chiến dịch lớn để tiêu diệt quân Nguyễn Ánh và bọn can thiệp Pháp để hoàn thành việc thống nhất đất nước; đồng thời tích cực đòi lại hai tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông từ nhà Thanh bên Trung Quốc. Trong bối cảnh lịch sử như vậy, triều đình đã tuyệt đối giữ bí mật về cái chết của nhà vua, ra lệnh giới nghiêm "nội bất xuất, ngoại bất nhập" ngăn chặn từ xa mọi con đường tới kinh đô Phú Xuân. Đến nỗi ngay người anh cả của nhà vua là Nguyễn Nhạc, khi nghe tin vua mất, dẫn một đoàn hơn ba trăm người từ Quy Nhơn ra cũng bị chặn lại ở Quảng Ngãi, chỉ để có một mình bà chị được đi tiếp.
Cho đến nay, đã có nhiều giả thuyết được đưa ra nhưng chưa giả thuyết nào có được chứng cứ xác thực, đủ sức thuyết phục. Có thể tập trung những giả thuyết này vào những ý chính sau đây:
1. Trong khi tích cực chuẩn bị binh mã để tiến đánh chiếm Quảng Tây, Quảng Đông, vua Quang Trung đã làm một động tác ngoại giao nghi binh: phái Đại tường Võ Văn Dũng cầm đầu một thái đoàn sang triều đình nhà Thanh dâng biểu xin cầu hôn con gái vua Càn Long và đòi lại đất lưỡng Quãng, cốt để "dò xem ý vua Thanh và cũng để mượn cớ gây binh đao" (Hoàng Lê Nhất Thống Trí, và Đại Nam chính biên liệt truyện. Vua Càn Long lúc đó đã tám mươi tuổi, đã trị vì hơn sáu mươi năm, là người đã hết sức lão luyện về mọi mưu mô chính trị, liệu còn có thể bị "đánh lừa" như khi tiếp "Quang Trung giả" ở nhiệt Hà và Bắc Kinh với những lời thơ chan chứa tình cảm: "Mới gặp nhau mà như đã thiên thu… Người xa nhưng Trẫm luôn nhắc nhở. Hội ngộ thịnh thời thỏa ước mơ"? Lần này, chắc chắn vị vua cáo già ấy đã nhìn rõ ý định của vua Quang Trung nên "tương kế tựu kế": một mặt chấp nhận cả hai đề nghị của vua Quang Trung, mặt khác lại cho người sang ám hại nhà vua bằng thứ võ khí nham hiểm nhất là thuốc độc.
2. Vào năm 1961, một người tên Nguyễn Thượng Khánh, tự nhận mình thuộc chi phái Lê Duy Mật của hoàng tộc nhà Lê, đã viết một loạt bài đăng trên tạp chí Phổ thông xuất bản ở Sài Gòn (từ số 61 đến 65) dưới nhan đề "Vua Quang Trung chết vì một liều độc dược của Ngọc Hân công chúa". Ông cho đó là một sử liệu bí mật của dòng họ nhà ông, có liên quan đến lịch sử mà "xưa nay chưa ai phát hiện ra". Theo ông này, khi được tin vua Càn Long hứa gả con gái cho Quang Trung, "trong một phút bồng bột vì quá ghen, Ngọc Hân đã bỏ thuốc độc cho Quang Trung uống". Đi xa hơn nữa, ông còn cho rằng: "cuộc hôn phối giữa Nguyễn Huệ và Ngọc Hân không là cuộc hôn phối tốt đẹp, lẽ tự nhiên có một sự oán hờn bên trong", và "nếu không vì chữ hiếu thì Ngọc Hân đã có thể chết đi được khi nàng được tin phải làm vợ của tướng Tây Sơn”. Lại đi xa hơn nữa, ông còn cho rằng: “bài văn tế Quang Trung và Ai Tư vãn cho là của Ngọc Hân công chúa nhưng sự thật chưa hẳn đã đúng…”
Những bài báo của ông Khánh đã gây ra một sự phẫn nộ và phản ứng mạnh mẽ không những từ các nhà học giả, giới tri thức mà cả từ con cháu dòng dõi Lê Duy Mật ở rải rác khắp miền Nam. Sau đó, nhiều bài báo đã vạch ra những sai lầm, dốt nát về lịch sử của ông Khánh, phê phán óc tưởng tượng bệnh hoạn của ông đã dám xúc phạm đến những vị anh hùng, liệt nữ được cả dân tộc mến yêu. Cuối cùng, người ta đã về tận sinh quán của ông Khánh để tra cứu gia phả thì xác minh ông không phải là dòng dõi Lê Duy Mật như ông đã tự nhận.
Như vậy, tóm lại chỉ có hai giả thuyết chính: nhà vua đã chết vì đầu độc, hay chết vì bệnh nhưng không rõ là bệnh gì.
THỬ PHÂN TÍCH THEO KHOA HỌC PHÁP?
Về mặt pháp y, thông thường chỉ có bốn nguyên nhân gây ra cái chết. Đó là chết vì tai nạn (xe cộ, lao động...), chết vì tự sát, chết vì án mạng (bị giết) và chết tự nhiên (bệnh tật, tuổi già...). Trong thực tế thì phức tạp hơn nhiều: một vụ án mạng có thể được ngụy trang thành một vụ tự tử, một tai nạn, thậm chí một vụ chết tự nhiên. Và ngược lại, có những dấu hiệu có thể làm nhầm lẫn một tai nạn, một vụ tự tử , một cái chết tự nhiên với một vụ án mạng tinh vi có chủ mưu.
Trong trường hợp vua Quang Trung, có thể loại bỏ ngay nguyên nhân tự tử. Còn về nguyên nhân tai nạn thì có nghi vấn, không có sử sách nào nói trong suốt cuộc đời trận mạc, nhà vua đã có lần nào bị thương chưa, bị thương ở phần nào của cơ thể, nhất là có bị thương vào đầu không (chấn thương sọ não).
Về hai nguyên nhân chính bị đầu độc và bị bệnh - thì hai nguyên nhân này cũng không loại trừ nhau. vì có thể có những vụ "đầu độc dần dần", gây nên một sự nhiễm độc chậm, không làm chết nhanh chóng, chết đột ngột mà làm cho cơ thể bị nhiễm độc biểu hiện ra bằng những triệu chứng có thể nhầm với bệnh tật. Ngược lại, cũng có những bệnh tật thực sự, trong quá trình diễn biến sinh ra độc tố, có thể biểu hiện ra bằng những dấu hiệu giống như bị đầu độc.
Trong trường hợp của vua Quang Trung , có thể khẳng định nhà vua không chết đột ngột mà đã trải qua một quá trình bệnh tật nhiều ngày: "Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết...", được Ngọc Hân tận tình cứu chữa, lo chạy "khắp mỗi chốn đâu đâu tìm rước. Phương pháp nào đối được cùng chăng?" - (Ai Tư vãn).
Chúng tôi cho rằng có thể gạt bỏ giả thuyết bị đầu độc, vì để đầu độc một người chết dần dần như bị bệnh không phải là chuyện dễ, phải có chất độc thích hợp. Chất gì, kiếm ở đâu ra, làm sao mang được vào trong cung vua, dùng với liều lượng nào để không gây chết nhanh, v.v....? Trong lịch sử nước ta, không hề nghe nói có vụ nào dần dần như vậy. Uống thuốc độc tự tử hay "tam ban triều điển" thường là chết rất nhanh, vừa uống khỏi mồm là đã vật vã chết rồi.
Cuối cùng, chỉ có giả thuyết chết vì bệnh có lẽ gần sự thật nhất. Nhưng chết vì bệnh gì?
Suy luận theo những kiến thức Tây y đương đại, chúng tôi nghĩ rằng một con người như vua Quang Trung, đang ở độ tuổi sung sức, hoạt động mãnh liệt, đánh đông dẹp bắc, ngày đêm lo nghĩ, có một cuộc sống cực kỳ căng thẳng, nói như ngày nay là "luôn luôn bị những stress" như vậy thì không tránh khỏi bệnh cao huyết áp. Thêm vào đó là chế độ dinh dưỡng của một ông vua ngày nào cũng mỡ thịt phủ phê, làm sao không để lại một tỉ lệ cholestérol cao trong máu, dẫn đến xơ vữa động mạch - nguyên nhân của những tai biến mạch máu não.
Ta không thể bỏ qua được điều giải thích trong sách Ngụy Tây liệt truyện: gạt bỏ những chi tiết mê tín dự đoan và ác ý chính trị thì cái lõi còn lại chính là triệu chứng của một cơn tăng huyết áp đột ngột, mà Tây y mô tả như, ở thời chiến trận ngày xưa, người ta dùng những cây gỗ thật lớn lao vào cửa thành để phá cửa: Un coup de bélier hypertensif - Người bệnh bỗng xây xẩm mặt mày, ngã xuống bất tỉnh...
Tóm lại, chúng tôi nghĩ rằng giả thuyết vua Quang Trung chết vì bệnh có thể là gần sự thật hơn cả. Nhà vua có thể từ lâu đã bị cao huyết áp, và đã chết vì một tai biến mạch máu não.
Dù sao, giả thuyết vẫn chỉ là giả thuyết thôi, bao giờ cũng khập khiễng và để lại nhiều tồn nghi./.

Đọc toàn bộ bài này tại nguồn http://www.thuvienbinhdinh.com

Trên phương diện TỬ VI ta thấy gì?

Hai hạn của nhà Vua có nhiều đối tượng. Đại hạn có Huynh, Tử. Tiểu hạn có Thê. Nhưng không có thù oán, oan khốc tại 2 hạn, chỉ có Cô Quả không giao du. Đặc biệt cung Huynh Đề của Vua có BỆNH PHÙ Tam Không có HÌnh xung... Đây chỉ mới xung thôi, nơi THIÊN HÌNH trừng phạt chính là cung Nô Bộc. Cung Nô Bộc bị HÌNH KHÔI KHÔNG KIẾPCỰ ĐỒNG... Nhà vua từng giết Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm một số tướng của Tây Sơn phải đầu quân cho Nguyễn Vương. Cũng trong đại hạn này năm Đinh Mùi 1787 hai anh em xung đột với nhau, theo mô tả của Wiki vắn tắt dưới đây. Nếu an lưu động bạn sẽ thấy năm đó tại Huynh Đệ cung có Lưu KÌNH. Ở đây người viết không muốn đi sâu vào cung Huynh Đệ nhưng nhằm chứng minh, loại trừ cung Huynh Đệ không có dính dáng đến cái chết của nhà vua. Sau này người viết sẽ chứng minh một người bị người khác giết, khác với đau ốm bệnh tật như thế nào, mặc dù tại đây có Âm nhưng không có thể đưa đến âm mưu ám hại. Hai anh em không ưa nhau từ chỗ âm thầm đã chuyển qua công khai đánh nhau, đó chẳng qua là việc làm bất đắc dĩ. Ứng hợp với cung đại hạn có thấy cung Huynh Đệ.

Trang Wiki viết

Mâu thuẫn của anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ ngày càng lớn. Vua Tây Sơn vốn không có ý đánh ra Bắc Hà, chỉ muốn chiếm Nam Hà việc Huệ đánh Bắc Hà là trái ý Nguyễn Nhạc, lại thấy Nguyễn Huệ ở Bắc Hà lâu quá sau khi thắng nên Nguyễn Nhạc đâm ra lo sợ vì khó kiềm chế được Nguyễn Huệ.

Nguyễn Nhạc tuyển một đội lính hộ tống đi ra Bắc và đòi Nguyễn Huệ về. Dù chính Nguyễn Huệ đã ra tận ngoài cửa ô tiếp đón, cả hai cùng đi triều kiến vua Lê rồi về Nam nhưng Nguyễn Nhạc vẫn chưa bằng lòng.

Tới Phú Xuân, Nguyễn Huệ ở lại còn Nguyễn Nhạc trở về Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc đưa ra nhiều đòi hỏi tỏ uy quyền mà Nguyễn Huệ từ chối: bắt Nguyễn Huệ đi chầu, nộp chiến lợi phẩm và nộp đất Quảng Nam.. Nguyễn Huệ tỏ ra chống đối Nguyễn Nhạc và binh lính lại rất trung thành với ông. Nguyễn Nhạc phẫn chí, giết công thần Nguyễn Thung, hiếp vợ Nguyễn Huệ.

Nguyễn Huệ chiếm nốt kho vàng của Tây Sơn ở Quy Nhơn để vận hành chiến tranh, thế là chiến tranh xảy ra. Nguyễn Huệ đánh nhau với Nguyễn Nhạc trong vài tháng đầu năm 1787, ông tổng động viên chừng 6 vạn tới 10 vạn quân. Họ đánh nhau dữ dội và sau đó Nguyễn Huệ tiến đến vây thành Quy Nhơn, đắp thành đất, bắn đại bác vào thành.

Nguyễn Nhạc bị vây bức quá phải vào đền thờ cha mẹ khóc rồi kêu Đặng Văn Chân từ Gia Định về cứu nhưng quân Đặng Văn Chân tới nơi lại bị Nguyễn Huệ đánh tan, buộc Đặng Văn Chân phải tới hàng. Tuy quân của Nguyễn Huệ trong các cuộc công thành thương vong đến phân nửa nhưng tình thế buộc Nguyễn Nhạc phải lên mặt thành khóc xin em "Nỡ lòng nào mà nồi da xáo thịt như thế". Nguyễn Huệ nể tình anh em, thôi hãm thành và bằng lòng giảng hòa với vua anh, rồi rút về Thuận Hóa[34]

MỆNH của QT hưởng cách “Hưởng đắc an toàn chi phúc” không bị thương tích vào thân thể, không bị ám toán, không bị phá cách. Nếu có, thì đáng nghi ngờ. Cho nên bị ám hại nên loại trừ, tuy nhiên cung an Thân có Lang Hổ, thiên về mâu thuẩn trên dưới nội bộ. Phúc Đức cung chỉ báo ngắn ngủi mà thôi. Đại hạn của nhà vua THÁI DƯƠNG có tính minh bạch công khai rõ ràng, tiểu hạn có tính bí mật của TỬ VI chứ không âm mưu, âm thầm, mờ ám như THÁI ÂM. Ta có quyền nghi nghi vì bên ngoài TỬ VI có cả 2 Kỵ hội họp. Nếu có thêm Hình mới đáng ngờ hơn. Cái chết của vua Quang Trung, ở đây ta chỉ bàn sâu về chết vì cái gì, bệnh hay bị ám toán mà thôi.

MỆNH THẤT SÁT hạn ngộ LỘC TỒN là một yếu tố xấu. 5 ăn 5 thua.

LỘC TỒN lại có CỰ MÔN xung. Cát xứ tàng hung.

Đại hạn ngộ Dương hãm Tuần tiểu hạn ngộ TỬ VI, THIÊN PHỦ TRIỆT mà ta biết TỬ VI rất kỵ TRIỆT. Cả 2 hạn đều ngộ Không Vong, lại có Lưu TUẦN TRIỆT. Như vậy cả 2 hạn bị Vong Tinh cố định và lưu động, Trong đó TỬ VI kỵ nhất. Vì dễ cái họa “ giữa đường đứt gánh”, “Từ bỏ nhiệm vụ”, “Tử vong cách”... nếu thấy thêm THIÊN KHÔNG thì cực xấu.

Cũng tại đại hạn này có bộ KHÔI VIỆT BỆNH PHÙ chủ Phát Sinh Bệnh., tiểu hạn cũng gặp bộ sao lưu động cùng tên, chủ Vua phát Bệnh mà mất.

Chưa hết chuyện nhà vua còn thêm cách xấu nữa. Lưu Đại BẠCH HỔ tại MỆNH. Và “THẤT SÁT lưu niên BẠCH HỔ tai thương”. Nếu cộng tất cả các yếu tố đó lại, nhẹ tay cũng 5 điểm xấu. Mà 5 điểm xấu là coi như mạt lộ, trong đó TỬ VI ngộ TRIỆT lại gặp Lưu TUẦN TRIỆT lại thêm lưu lưỡng Kỵ, chỉ riêng yếu tố này thôi là trên 2 điểm xấu.

Chết vì lý do gì? Bệnh gì?

Một người có THẤT SÁT (không cần phải THẤT SÁT) đi với KÌNH HỎA là lửa bốc đầy đầu, đi với THẤT SÁT bị bệnh tăng áp, nếu ĐÀ Hỏa lại thiên về giám, hạ áp. Tật ách cung nhà vua có bộ VIÊT HỒNG gia ĐỊA KIẾP,, đại hạn đang hội họp với nó.HÒNG LOAN chủ máu, chủ hệ tim mạch, VIỆT chủ phát sinh, thái quá,, VIỆT KIẾP chủ phát sinh tai họa... Và năm nay lại có lưu VIỆT HỒNG tụ tập. Hay nói cách khác tại Tật Ách cung đã báo trước bởi bộ VIỆT HỒNG BỆNH PHÙ có KIẾP, năm nay cũng bộ sao ấy Lưu động kích thích bộ cố định làm việc, cũng là lúc đại hạn có bộ sao này. (bạn cần đọc kỹ đoạn này). Nhìn bản đồ sao lưu động thấy rất là rõ.

Vậy thì nhà Vua bị đứt mạch máu mà chết. Đến Tồn mà không Tại. Bạn có tin khi một hạn TỬ VI xấu dễ bị đứt không nhỉ? Nó không đứt cái này thì đứt cái khác, quan trọng là tìm cho ra cái gì đứt đây, cái gì chết đây.. Không tin tìm ông Nguyễn Thái Học mà hỏi.

Bạn có biết, trong nhóm các sao lưu động, có một sao xuất hiện tại Tật Ách, ta có quyền nghi ngờ người ấy bị giết? Bạn nào thử đoán xem.

Ta nên quy nạp cách chết của Vua Quang Trung là một hạn tại TUẦN và một hạn tại TRIỆT gặp các sao Lưu cùng tên đồng cung, có TỬ VI ngộ TRIỆT (theo tính toán của người viết thì 432 người mới có trường hợp kể trên). Từ đó bạn rút ra một kết luận. So sánh với các trường hợp sẽ gặp khi luận đoán. Như trường hợp nhà Vua bất lợi trước LỘC TỒN lại lưu LỘC TỒN, TỬ VI ngộ TRIỆT lại lưu thêm TRIỆT. Cũng hạn như thế này những sao ưa LỘC TỒN lấy đâu mà chết. Các sao CỰ MÔN, SÁT PHÁ dị ứng với LỘC TỒN các sao còn lại, được kể là không dị ứng.

Phần tâm tình.

Khi đọc bài viết này, người viết tin rằng: có ít nhất 2 người tiếp thu nhanh và đánh giá cao tầm quan trọng của sao lưu động. Bạn cũng cần chú ý an KHÔI VIỆT, KHOA tuổi Nhâm cho chính xác.

Trước một lá số TỬ VI bạn nên Phân tích như thế này. Nhưng trước hết nên an lá số TỬ VI nho nhỏ thôi, để có cái nhìn tập trung, nên tập an tay cho quen mới mong giỏi được, nếu không chẳng bao giờ giỏi đâu. Nhà nghiên cứu mà chẳng biết LƯU HÀ thuộc nhóm sao nào cũng bày đặt nghiên với cứu....

Tách các chính tinh ra. Đó là nhóm sao nghiệp chướng. Nghiệp chướng của nhà vua là THẤT SÁT. Xem bài THẤT SÁT (được và mất, thắng và thua...).

Còn lại bộ Can Chi là là tính cách của người đó. trong trường hợp này là bộ ĐẠI THÁI TUẾ, bộ sao này chủ đại chí. Vòng sao còn lại là vòng TRƯỜNG SINH. Các sao còn lại như XƯƠNG KHÚC, Tả Hữu, KHÔNG KIẾP, Kỵ hình... giúp chúng ta quyết đoán.

Cũng với THẤT SÁT tại Thân nhưng đí với TIỂU THÁI TUẾ lại là rất tầm thường...

Tại đây bạn mới làm quen các bộ VIỆT BỆNH PHÙ, bộ Đại Hổ, Đại Thái... chỉ mới nghe bàn đến lần đầu. Thật ra người viết định viết về bộ PHI VIỆT và các biến dạng của nó, nhưng bị hấp dẫn bởi 1 người thân viết đề tài, nghi vấn lịch sử (VŨ KỴ) về cái chết của nhà vua. Kỳ tới có thể viết cũng lá số của một người, cũng THẤT SÁT tại Thân bị chết bởi giết, lúc đó bạn sẽ thấy bị giết khác với bị chết dễ phát hiện chứ không có gì khó khăn cả. Tất nhiên là lá số của một nhân vật có tiếng (nếu không dễ mang tiếng bịa ra mà nói). Nhưng để hiểu điều đó chúng ta phải bất đắc dĩ tìm hiểu lá số QT.

Hiện giờ người viết rất bận việc, phải đến sau 20 tháng 10 mới xong. Tuy nhiên vẫn cố gắng viết bài cho bạn đọc, mà không thể trả lời được. Tính ra hơn 2300 lời bình đã trả lời- (tính đến nay bộ đếm không còn hoạt động nữa, Yahoo luôn luôn có lỗi), không kể, mail, tin nhắn một số lượng khổng lồ mất rất nhiều thời gian. Lại thấy những người chưa đọc hết lại hỏi, buồn làm sao. Cứ dẫn đường từng người một biết bao giờ đến đích. Phí phạm thời gian, mà quỹ thời gian còn lại rất ít. Chưa kể khoái làm flash,ưa chơi game chiến lược, đến làm flash để hoc TỬ VI thấy rất dễ hiểu hơn là viết như thế này.

Nguồn trích dẫn (0)

BẠCH HỔ có bao nhiêu loài.

Có bao nhiêu loài hổ trên TỬ VI? Có 60 loài đại diện cho 60 tuổi. Có người than rằng nhiều quá khó nhớ cho xuể. Nhưng chưa nhiều đâu mỗi loài có đến 14 chủ nhân, tức là các chinh tinh cai quản HỔ, nhân lên ta thấy chóng mặt, hết muốn nghiên cứu.

Ta tập trung 60 loài cơ bản. Lập trang Web, nếu tôi không lầm, trong trang Web có nhiều SITE. Ta gọi những con HỔ tốt nằm trong site hổ tốt.com. (Đọc là hổ tốt chấm com). Công việc bắt đầu.

* Hỡi các HỔ hãy nghe đây! Các HỔ nào có đuôi PHƯỢNG CÁC được tôi xếp vào site hổ tốt. com. Những hổ còn lại tạm gọi HỔ lạc loài.

Các HỔ đạt tiêu chuẩn Sửu Mùi khoái chí vào ngay. 2 loài Thìn, Tuất phân vân vì PHƯỢNG một nơi mà HỔ một ngả. Tôi chấp nhận cho vào luôn.

Các HỔ còn lại nhao nhao phản đối. (thói đời là vậy). Tại sao chỉ có PHƯỢNG CÁC mà ưu tiên quá vậy. Cho là hổ đắc địa. Các HỔ hãy nghe đây.

BẠCH HỔ là gì? Là sao chủ sự bày tỏ, thổ lộ, tâm tình, biện bạch… (người viết chọn chữ bày tỏ để nói chung chung). PHƯỢNG CÁC là gì? Là sao chủ sự ngưỡng mộ, ngẩn cao đầu… Vậy thì BẠCH HỔ bày tỏ điều mình nói được sự ngưỡng mộ của quần chúng. Vậy thì nó không đắc địa thì gọi bằng gì. Đắc địa thực chất là đắc ý, tức hợp lý, hợp lẽ. Chứ không phải là ưa phong chỗ nào đắc địa thì phong. Rồi tìm cách giải thích ngũ hành sinh khắc là tự mình lừa dối mình để thuyết phục người khác tin như vậy.

Chỉ có đáng bàn là Thìn Tuất PHƯỢNG một nơi, và HỔ một ngả. HỔ nầy không hay bằng Sửu Mùi tự tin những gì mình nói ra. Hổ Thìn Tuất nói ra được bên ngoài ngưỡng mộ đánh giá (chờ quần chúng đánh giá).

BẠCH HỔ của 4 tuổi nầy luôn luôn nằm trong bộ Tứ Linh. Bộ sao nầy là gì? là sự ngưỡng mộ, là số dzách, là quí trọng, là thần tượng, là Fan thậm chí được tôn sùng mãi mãi, đời đời… Đó là lợi thế 4 tuổi kể trên. Các HỔ còn lại không nên ganh tị.(khi nói sao KHỐC thì Tí Ngọ ăn đứt, khi nói ĐÀO HỒNG thì Mão Dậu hơn người. Vậy thì hãy an tâm đi, đừng buồn. Hãy xem con MÃ của tuổi Sửu kém hay, chứng minh một điều: Được cái nầy mất cái khác. Vậy thì đừng ganh tị với những gì mình không thể có.

BẠCH HỔ và TẤU THƯ:

Các HỔ hãy nghe đây. Kể cả HỔ lạc loài và HỔ đắc địa. Hãy vạch đuôi mình lên xem có chữ TẤU THƯ không? nếu có là HỔ đắc ý, đắc lợi còn ngon hơn là đắc địa mà không có sao nầy. Có người thắc mắc vì sao lại hay? Không thắc mắc, không chịu hỏi, tin tưởng một cách mù quáng, như một công thức, không tiến bộ được. Trong toán học khi hình thành công thức, buộc phải chứng minh. Đúng chưa? Hỡi những người giỏi toán đang đọc bài viết nầy.

TẤU THƯ chủ biên tập, biên chép, viết, trình bày… dĩ nhiên khó hơn là nói. Ví dụ bạn hỏi tôi BẠCH HỔ là gì? Nói ra rất dễ. Viết thì rất khó phải không? Giải thích một điều khó hiểu để mọi người cùng hiểu, phải hành văn sao đây cho khỏi khô khan, từ phải thông dụng không sáo rỗng… Vậy thì HỔ TẤU khi nó quá giỏi có thể viết văn, làm thơ, soạn nhạc… để lại cả một kho tàng văn hóa, kể cả các con HỔ TẤU của TỬ VI để lại các câu:

"HỔ mà gặp TẤU đồng cung. Công danh thi cử nên công dễ dàng"

BẠCH HỔ và XƯƠNG KHÚC:

Các HỔ hãy nghe đây. Vạch đuôi lên xem thử có chữ XƯƠNG KHÚC hội họp đâu đó không. Nếu có cũng như là hổ đắc địa mà thôi. Mà còn hay hơn thế nữa.

"TUẾ HỔ PHÙ hợp KHÚC XƯƠNG. Có tài hùng biện văn chương hơn người".

Đây là con HỔ ngon lành nhất, không dùng từ hè phố. Thậm chí ngại cả viết tắt sợ ngộ nhận, nói toàn chuyện văn chương nghệ thuật, đối diện với y đôi khi ta bị… hổ ngươi, hổ thẹn. Chu ng quanh chỗ ở của y toàn sách với vở, chỗ ngủ cũng vậy thôi. Cảm giác y dùng sách vở dọa ta, ta ghét y quá ta gọi y là con… mọt sách.

BẠCH HỔ và HÓA KỴ :

"Hổ bị đánh dấu". Là từ người viết tạo ấn tượng để bạn dễ nhớ. Các tình huống của HỔ nầy như sau:

* Đừng nói thế. Như " Đừng nói với em những lời nào tràn đầy cay đắng"…

* Cấm bày tỏ. Từ đừng không được chuyển qua cấm đoán. Cấm bày tỏ. Và Kỵ là sao rất ly kỳ chuyển thành…

* Nghi ngờ những lời nói ấy. Như vì sao? Tại sao? Lý do gì nó lại nói như vậy… đằng sau lời nói ấy là gì?.

* Bày tỏ phạm vào chỗ cấm kỵ. Cái chỗ không đáng nói đến lại nói đến. Như xúc phạm đến tôn giáo, chính quyền, đến địa phương, gia tộc… Nếu đọc trên báo chí trường hợp nầy không hiếm. Các vụ tranh, thơ, biếm họa về Hồi giáo là các dạng bày tỏ của BẠCH HỔ. Nếu HỔ KỴ có thêm THIÊN HÌNH là họa đấy. Họa do bày tỏ.

HỔ KỴ tức có đuôi đánh dấu bằng KỴ có con không chịu nói, có con bị cấm nói, có con nói điều cấm kỵ… do đâu? Do chủ nhân của nó. Là ai? Là 14 chính tinh cai quản nó. Ta chưa bàn xong các loài bàn đến chủ nhân của nó càng thêm rối trí. Đúng chưa?

Đa phần HỔ KỴ cái đuôi nó không đẹp, ngắn quá, nhỏ quá, rụng mất lông, thậm chí có con dấu cả đuôi, nó thấy ta lãng tránh đi xa. Nhưng coi kìa, đàng kia kìa… có con lạ lắm kìa, có con hình như là con hổ mà không phải hổ, ta có triệu tập nó đâu?. Vạch đuôi cho tui xem nào. KỴ KHOA. A! con kỳ lân đây rồi. Tức kỳ nhân đây rồi. Tại sao lại ở chốn bụi trần, xin mời vào Site hổ tốt.

BẠCH HỔ và THIÊN HÌNH

"Hổ khép nép". Đi đứng rụt rè nhưng có con tỏ ta oai vệ. Ăn nói có vẽ lễ độ nhưng có con tỏ ra răn đe. Vì sao vậy ta. Vì cái sao THIÊN HÌNH tùy thuộc có đắc địa hay không. Chúng ta đang bàn đến con HỔ đã mệt nghỉ, THIÊN HÌNH nằm trang Web của nó.

BẠCH HỔ và KHÔNG KIẾP

CHỦ NHÂN của HỔ là ai?