Triết lý sống

Phàm làm việc gì trước phải suy xét đến hậu quả của nó
Hành động của người quân tử là giữ tĩnh lặng để tu thân, cần kiệm để dung dưỡng đức độ. Không đạm bạc thì không thể có trí tuệ sáng suốt, không yên tĩnh thì không có chí vươn xa. Học thì phải cần yên tĩnh, muốn có tài năng phải học; không học thì không biết rộng, không có chí thì việc học không thành.

Mong muốn lan man thì không thể nảy sinh cái tinh túy, vội tìm cái hiểm hóc thì không nắm được cái thực tình. Thời gian tuổi tác qua nhanh, ý chí cùng ngày tháng trôi đi trở thành khô héo, phần lớn không tiếp cận được với thời đại, rồi buồn tủi nơi lều nát, sao còn khôi phục lại kịp cái chí hướng được nữa !

Tuesday, January 5, 2010

Trang Tử và Nam Hoa Kinh

Nguyễn Hiến Lê

Giới thiệu và chú dịch: Nguyễn Hiến Lê

Phần I - Chương 1

THỜI ĐẠI VÀ CUỘC SỐNG


THỜI ĐẠI

Trang tử kém Mạnh tử khoảng mười tuổi, sống ở giữa thời Chiến Quốc (-403 -221). Ông sanh vào khoảng -360, trên 40 năm sau khi thời đại loạn đó bắt đầu, và 60 năm sau ông mất, nó cũng chấm dứt. Vậy ông chứng kiến được hầu hết những biến chuyển lớn của thời đó: Tần dùng Vệ Ưởng để biến pháp mà hùng cường lên, xưng bá (-343) rồi xưng vương (-325); sáu nước kia (Yên, Triệu, Hàn, Nguỵ, Tề, Sở) bèn hợp tung để chống Tần (-333), nhưng phe hợp tung mau tan (-332), Trương Nghi đề nghị thuyết liên hoành (-331) để liên hiệp lục quốc mà tôn Tần, do đó mà Tần lại càng mạnh thêm, thắng được Nguỵ, Hàn, Sở, rồi xưng đế (-288), diệt Tống, ức hiếp Triệu. Trước khi mất, chắc Trang tử đã đoán được xu thế của thời đại; thế nào rồi Tần cũng sẽ thay Chu, làm thiên tử mà thống nhất Trung Quốc.

Như trong Chiến Quốc Sách[1] trang 10, chúng tôi đã nói, sự dùng năm -403 để phân chia hai thời Xuân Thu và Chiến Quốc không dựa trên một biến cố nào quan trọng (năm đó chỉ là năm lên ngôi của Uy Liệt vương nhà Chu), mà lịch sử và xã hội Trung Hoa suốt hai thời kì Xuân Thu và Chiến Quốc biến chuyển liên tục, không hề gián đoạn, từ chế độ phong kiến tới chế độ quân chủ chuyên chế, từ tình trạng phân li tới tình trạng thống nhất.

Tuy nhiên, xét chung, chúng ta vẫn thấy hai thời đó có nhiều điểm khác nhau:

1. Xuân Thu là thời các vị bá chủ (như vua Hoàn công nước Tề) mượn uy danh của Thiên tử, tức vua Chu mà ra lệnh các chư hầu; Thiên tử thời đó tuy không có quyền, nhưng còn danh phận, các vị bá chủ chưa dám khinh; thời Chiến Quốc, trái lại, các vua nước lớn như Tần, Tề, Nguỵ, Sở… đều xưng vương, chẳng coi Thiên tử ra gì cả;

2. Thời Xuân Thu, chế độ chính trị chỉ biến chuyển lần lần thôi, vì các vua chúa còn trọng dư luận ít nhiều; qua thời Chiến Quốc, vua các cường quốc không đoái gì tới cổ pháp, cổ lễ, can đảm làm những cuộc cách mạng về pháp độ, như cuộc biến pháp của Vệ Ưởng năm -359 đời Tần Hiếu công;

3. Thời Xuân Thu giới quý tộc còn nắm được nhiều quyền lớn, cha truyền con nối, qua thời Chiến Quốc, đặc quyền đó gần đó gần như hoàn toàn bị diệt, và rất nhiều người trong giới bình dân lên làm khanh tướng, như Tô Tần, Trương Nghi…;

4. Chiến tranh trong thời Xuân Thu tuy nhiều nhưng không kịch liệt, còn giữ được cái luật “quân tử” không giết kẻ bại; thời Chiến Quốc, chiến tranh tàn khốc hơn nhiều, có trận chết hàng vạn người (sát nhân doanh dã, sát nhân doanh thành), cho nên dân tình cực kì điêu đứng;

5. Phép “tỉnh điền” không rõ bị phế bỏ lần lần từ thời nào, nhưng chắc chắn là cuộc biến pháp của Vệ Ưởng, thời Chiến Quốc, được nhiều nước khác theo, Mạnh tử hô hào tái lập nó mà không được;

6. Thời Xuân Thu, trọng tâm của kinh tế là nông nghiệp; qua thời Chiến Quốc, công và thương phát đạt mạnh, địa vị mỗi ngày một quan trọng hơn, mà các thị trấn như Hàm Dương (Tần), Lâm Tri (Tề), Hàm Đan (Triệu) rất phồn thịnh; và bọn cự thương như Lã Bất Vi có thể dùng thế lực đồng tiền xâm nhập chính trị;

7. Quan trọng nhất là sự phát triển về tư tưởng. Trong thời Xuân Thu, từ khi Khổng tử sanh (-551) tới khi Liệt tử mất (-349), suốt hai trăm năm chỉ có mươi triết gia: Khổng tử, Tử Tư, Mặc tử, Dương tử, Lão Đam, Quan Doãn, Liệt Ngự Khấu; qua thời Chiến Quốc, số triết gia có tiếng tăm lên tới trên hai chục nhà, ấy là chưa kể các chính trị gia, biện sĩ, thuật sĩ.

Theo Sử kí của Tư Mã Thiên, bọn du thuyết được Tề Tuyên vương tặng chức thượng đại phu, chỉ bàn suông chứ không dự vào việc chính trị, như Trâu Diễn, Thuần Vu Khôn, Tiếp tử, Hoàn Uyên… tới 76 người, còn số học sĩ ở Tề có tới mấy trăm ngàn người (chương 46: Điền Hoàn thế gia).

Nguyên nhân chính là thời đó đại loạn, người nào cũng có tư tưởng cũng muốn đưa ra một thuyết để cứu đời; mà các vua chúa nào muốn làm bá chủ Trung Quốc cũng tôn trọng kẻ sĩ, mời họ làm cố vấn. Do đó, ngôn luận được hoàn toàn tự do. Đúng là thời “trăm hoa đua nở”; cho tới nay, trên hai ngàn năm sau, Trung Hoa không còn được thấy lại cảnh phồn thịnh đó nữa.

Dĩ nhiên, mỗi triết gia chỉ nắm được một phần chân lí, như tác giả chương Thiên hạ, phần Tạp thiên của Nam Hoa kinh đã nhận định:

“… học phái hoặc kĩ thuật của trăm nhà đều có sở trường, thời cơ thích hợp thì đều có chỗ dùng được đấy, nhưng không bao quát được hết: họ chỉ là những nhà thiên kiến… Họ mổ xẻ cái thuần mĩ của trời đất, phân tích cái lí của vạn vật, cái nhất quán của cổ nhân… lập ra những phương thuật riêng. Buồn thay! Học phái của bách gia cứ phân tán ra trăm ngả tới cực đoan mà không trở về cái gốc… Đạo thuật trong thiên hạ sắp bị chẻ nhỏ ra rồi”. (đoạn 3).

Bất kì về vấn đề nào: vũ trụ, Đạo và tính, chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, võ bị, danh và thực… họ cũng đưa ra được hai ba lí thuyết để chống đối nhau, phủ nhận nhau, không khí thật kích thích, tạo nên một hoàng kim thời đại của triết học Trung Hoa.

Dưới đây tôi chỉ ghi tên một số triết gia đồng thời với Trang Chu, hoặc được nhắc tới trong Trang tử (cũng gọi là Nam Hoa kinh) để độc giả đỡ phải tìm kiếm mà dễ nhận định được thời đại. Những năm sinh và mất của mỗi nhà đều theo Vũ Đồng trong Trung Quốc triết học đại cương (Thương vụ ấn thư quán – 1958), và đều phỏng chừng, có thể sai vài ba chục năm.


Xét bảng trên[1], chúng ta thấy khi Lão tử và Liệt tử chết, Trang tử hãy còn nhỏ; những triết gia đồng thời với Trang và lớn hơn Trang từ 10 đến 20 tuổi là Tống Kiên, Bành Mông, Mạnh tử, Huệ Thi, Điền Biền, Thận Đáo… Công Tôn Long và Tuân tử đều nhỏ hơn Trang khoảng 30 tuổi. Sau cùng khi Trang mất thì Hàn Phi mới ra đời.

Tóm lại Trang sống vào giữa thời phát triển mạnh mẽ nhất của triết học Trung Quốc và mặc dầu không hề nhắc tới Tuân tử, ông có thể được biết tất cả các triết thuyết thời Chiến Quốc, trừ học thuyết Hàn Phi.

ĐỜI SỐNG

Trong số các triết gia lớn thời Tiên Tần, chỉ có Khổng tử và Mạnh tử là ta biết được tạm đủ và khá chắc chắn về đời sống: Khổng tử nhờ làm quan ở Lỗ và nhờ bộ Luận ngữ do môn sinh chép; Mạnh nhờ làm khách khanh cho Lương, Tề, Đằng, Tống, nhất là nhờ bộ Mạnh tử do môn sinh chép (ông duyệt lại) ngay khi ông còn sống[2].

Còn những nhà khác như Dương tử, Lão tử, Trang tử một phần vì ẩn dật, một phần vì không dạy học hoặc dạy ít học trò nên đời sống không được ghi chép lại.

Về Trang tử ta chỉ có mỗi một tài liệu gồm khoảng hai trăm chữ trong chương 63 bộ Sử kí. Không hiểu tại sao Tư Mã Thiên lại sắp chung Lão tử, Trang tử với Thân Bất Hại và Hàn Phi. Ông cho chúng ta biết:

* Trang tử tên là Chu, người đất Mông, đồng thời với Lương Huệ vương (-370 -319), Tề Tuyên vương (-319 -301), và có làm một chức lại trong một xưởng chế tạo sơn ở đất Mông.

* Trang học rộng, viết một bộ sách gồm trên 10 vạn chữ, đại để là ngụ ngôn; có những chương Ngư phủ, Đạo chích, Khư khiếp[3] chỉ trích Khổng Mặc và làm sáng tỏ học thuật của Lão tử. Văn ông hay, lời lẽ có thứ tự, khéo chỉ việc tả tình, tuy hạng túc học đương thời cũng khó tự gỡ cho mình được khi bị ông bài bác, tư tưởng của ông đặc biệt quá, nên các vương công thời đó không dùng.

Sở Uy vương nghe tiếng ông hiền, vời ông làm tướng quốc, ông từ chối, muốn được sống thoả ý, không chịu bị trói buộc.

Tư Mã Thiên không cho biết Trang tử tên tự là gì, sanh năm nào, mất năm nào, và đất Mông thuộc nước nào.

Về tên tự, có sách bảo là Tử Hưu, có sách chép là Tử Mộc (Hưu và Mộc viết hơi giống nhau), trong Mạnh tử lại gọi là Tử Mạc (Mạc và Mộc đọc hơi giống nhau)”.

Về năm sanh và năm tử, cũng có rất nhiều thuyết khác nhau khoảng năm chục năm.

Thuyết xa nhất là sanh năm -398, thuyết gần nhất là sanh năm -350, cách nhau: 48 năm. Đa số, như Lương Khải Siêu, Trương Thành Thu, Trang Văn Thọ, Mã Di Sơ… đoán khoảng -370.

Năm tử: xa nhất là -317, gần nhất là -270, cách nhau: 47 năm. Đa số đoán vào khoảng -290 hay -295.

Trong bảng ở trang 13, tôi theo thuyết mới nhất của Vũ Đồng: -369, -280. Vũ Đồng bảo Trang chịu ảnh hưởng của Điền Biền và Thận Đáo, chắc phải nhỏ hơn hai nhà này. Tuy nhiên đó cũng chỉ là một giả thuyết[4] có thể gần đúng, chứ không đáng tin hẳn.

Về nơi sanh, các học giả đều bảo là đất Mông, nhưng đất Mông ở đâu, thuộc nước nào thì ý kiến cũng phân vân. Người thì bảo đất Mông tức Mông Trạch, người thì bảo là Mông huyện hoặc Mông thành. Bùi Nhân trong Tập giải[5], dẫn bộ Địa lí chí bảo: “Huyện Mông thuộc nước Lương”; Tư Mã Trinh trong Sách ẩn, dẫn lời Lưu Hướng trong Biệt lục, bảo Trang tử là người đất Mông nước Tống; Cao Dụ chú giải bộ Lữ Thị Xuân Thu cùng ý kiến với Tư Mã Trinh. Chu tử đời Tống lại cho Trang tử là người nước Sở. Hoàng Cẩm Hoành trong Trang tử độc bản (Tam dân thư cục – 1974) sau khi nghiên cứu kĩ lưỡng các thuyết, kết luận rằng đất Mông đó là thành Mông thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay; khi Trang tử ra đời, đất đó vốn là của nước Tống, sau khi Trang mất, Tống bị diệt, ba nước Sở, Nguỵ, Tề chia nhau đất đai của Tống và đất Mông từ đó thuộc về Nguỵ (tức Lương), vì vậy mà bảo Mông thuộc về Nguỵ hoặc Tống cũng được.

Tóm lại về đời của Trang tử chỉ có mấy điểm này là chắc chắn: Ông sinh ở đất Mông thời đó thuộc Tống (Tống giáp biên giới phía bắc của Sở), sống vào thế kỉ thứ 4 trước T.L., đồng thời với Lương Huệ vương và Tề Tuyên vương (tức đồng thời với Mạnh tử), hồi trẻ làm một chức quan nhỏ, coi một xưởng chế tạo sơn, sau ở ẩn, viết một bộ sách, người đời sau gọi là Trang tử, tư tưởng chịu ảnh hưởng của Lão tử.

Muốn biết thêm về tình cảnh cùng cá tính của ông, ta phải tìm trong bộ Trang tử.

Chúng tôi đếm được trên dưới ba chục bài chép cố sự về Trang. Trừ một số bài hoặc chương chúng ta biết chắc là sai vì vô lí, chẳng hạn bài XXI.5[6] cho Trang tử lại yết kiến Lỗ Ai công, mà Lỗ Ai công mất trước khi Trang tử sanh khoảng trăm năm, hoặc chương XXX bàn về thuật đánh kiếm, đem những tư tưởng không có chỗ nào hợp với Trang đặt vào miệng của Trang…; trừ những bài đó không sao tin được, chỉ có thể coi là ngụ ngôn, còn những bài khác, tuy không hoàn toàn đáng tin hẳn, nhưng có thể tạm dùng để hiểu về Trang.

Những bài này chia làm hai loại:

- những bài dẫn lời Trang bàn về đạo lí, như bài XXII.6 Trang giảng về Đạo cho Đông Quách tử, bài XIV.2 Trang giảng về đức nhân cho viên Thái tể Đãng…; những bài trong loại này nếu tư tưởng có thật của Trang thì tôi cũng không dẫn trong chương về tiểu sử này mà sẽ dành lại cho chương về học thuyết của Trang.

- những bài có tính cách cố sự, như bài XVII.5, Trang từ chối lời vua Sở mời ra làm quan; bài XVIII.2, Trang gõ nhịp vào cái vò mà hát khi vợ chết; bài XXIV.6, Trang tỏ ý tiếc nhớ Huệ Thi vì Huệ Thi mất rồi, không còn ai để đàm luận nữa…; những bài trong loại này khá nhiều, tôi sẽ trích dẫn một số cho ta đoán được đời sống và tính tình của Trang.

Chúng ta không biết được chút gì về tuổi thơ của Trang cả: Gia đình ra sao? Thuộc giới nào trong xã hội? Hồi nhỏ học ai? Lớn lên lập gia đình vào thời nào? Sau khi goá vợ có tục huyền không? Có bao nhiêu con? Dạy con ra sao?...

Theo Tư Mã Thiên, ông làm một chức lại nhỏ ở quê nhà. Sau ông ở ẩn, không chịu ra làm quan, chắc chắn có dạy học vì có một số bài chép những lời ông nói với môn sinh, chẳng hạn bài XX.1, ông đáp môn sinh về hữu dụng và vô dụng sau khi chủ nhà ông ghé thăm, sai gia nhân giết ngỗng để đãi ông, hoặc bài XXXII.13, kể chuyện khi ông hấp hối, ngăn môn sinh không cho hậu táng.

Môn sinh chắc không đông, ông dạy họ những gì, họ đối với ông ra sao, ta cũng không biết. Có lẽ là một số người đã lớn thích học thuyết của ông, trọng tư cách ông, ở gần ông để nghe ông tuỳ hứng bàn về Đạo, về cách xử thế. Còn Thi, Thư, Lễ, Nhạc thì nhất định là ông không giảng tới.

Ông ít đi đâu, cũng như Lão tử, Liệt tử, và trái hẳn với Mạnh tử, Mặc tử.

Ông giao du cũng ít, cơ hồ chỉ thân với mỗi một người là Huệ Thi, một triết gia lớn hơn ông độ mươi tuổi, học rộng (theo chương XXXIII, có đến năm cỗ xe đầy sách), thuộc phái Mặc, làm tướng quốc cho Lương Huệ vương.

Có hai bài chép rằng Trang tử nghèo.

Bài XXVI.2: “Trang tử nghèo phải hỏi mượn lúa của Giám Hà Hầu [tức Nguỵ Văn Hầu]. Giám Hà Hầu bảo:

- Được. Đợi tôi thu được tiền thuế của một ấp rồi tôi sẽ cho mượn ba trăm đồng. Được không?

Trang Chu giận đỏ mặt lên, đáp:

- Hôm qua tôi đi lại đây, giữa đường nghe có tiếng gọi. Tôi ngoảnh lại thấy một con cá giếc nằm trong một vết bánh xe. Tôi hỏi nó: “Con giếc kia lại đó làm gì vậy?”. Nó đáp: “Tôi là thần sóng ở biển Đông, ông cho tôi một đấu, một thăng (phần mười đấu) nước để cứu sống tôi được không?”. Tôi bảo: “Được. Để tôi đi du thuyết vua Ngô và vua Việt đã rồi khi về sẽ dẫn nước Tây giang lại cứu anh, được chứ?”. Con giếc nổi giận, biến sắc, đáp: “Tôi vì ra khỏi nước, không có chỗ an thân, chỉ mong được một đấu, một thăng nước để sống. Ông nói như vậy thì tốt hơn, (khi trở về) ông nên lại hàng cá khô mà tìm tôi”.

Nếu là truyện thực thì Trang tử quả là nhanh trí và cương trực, không sợ làm bẽ mặt một vị chúa.

Lần khác (bài XX.6), Trang tử “bận áo vải thô mà vá, đi giầy thủng, cột lại bằng dây gai lại yết kiến vua Nguỵ” – có thể cũng lại là Nguỵ Văn Hầu trong bài trên.

Vua Nguỵ bảo:

- Sao mà tiên sinh khốn khổ như vậy?

Trang tử đáp:

- Nghèo chứ không khốn khổ. Kẻ sĩ không thi hành đạo đức thì mới khốn khổ. Áo vá, giầy thủng thì là nghèo chứ không phải khốn khổ. Như vậy là vì không gặp thời”.

Giọng Trang có vẻ bực tức, gay gắt. Rồi cũng như trong bài trên, ông đem loài vật ra kể truyện để mắng vua Nguỵ: con vượn khi ở trên các ngọn cây cao thì leo nhảy, tự đắc lắm như làm chúa một cõi, nhưng khi phải len lỏi trong đám cây thấp có gai thì run sợ, ngó trước ngó sau, gân cốt co lại, chỉ vì hoàn cảnh bất lợi nên không thi thố được tài năng

Sau cùng Trang kết:

“Ngày nay kẻ sĩ ở vào cái thời hôn quân loạn thần thì làm sao mà khỏi khốn khổ cho được. Chứng cớ là Tỉ Can bị moi tim đấy”.

Truyện này cũng chưa chắc đã có thực, nhưng cũng giống truyện trên: Trang tử lại tỏ tài ứng đối, tính tình khí khái mà cao ngạo nữa. Hễ trêu ông thì chỉ mang nhục thôi.

Ngay đối với bạn thân là Huệ Thi, ông cũng không nể mà còn đập một cách cay độc. Huệ Thi đang làm tể tướng nước Lương (tức nước Nguỵ sau khi dời đô qua Đại Lương), khi hay tin Trang tử qua Lương, sợ Trang tranh ngôi tể tướng của mình, sai người đi tìm khắp nước suốt ba ngày ba đêm. Khi tới nơi Trang thấu tâm lí đó của bạn, bảo:

- “Ông có biết một con chim ở phương Nam người ta gọi là con uyên sồ (một loài chim phượng) không? Khi nó cất cánh từ Nam hải mà lên Bắc hải, không phải là cây ngô đồng thì nó không đậu, không phải là hột luyện thì nó không ăn, không phải là nước suối ngọt thì nó không uống. Một con chim cú đương rỉa xác một con chuột thấy nó bay ngang [sợ nó tranh ăn], ngửng lên nhìn nó, kêu lên một tiếng lớn doạ nó. Nay ông vì (cái ngôi tể tướng) nước Lương mà cũng muốn kêu lên để doạ tôi sao?” (XVII.6)

Nếu là bịa thì truyện đó cũng hợp với tính tình ngạo mạn, khinh phú quí của Trang. Trang không chịu nhận một chức vụ lớn nhỏ nào ở triều đình. Sử kí của Tư Mã Thiên chép rằng:

“Vua Sở Uy vương nghe tiếng Trang Chu là người hiền, sai sứ giả mang hậu lễ lại rước, hứa sẽ phong làm tể tướng. Trang Chu cười bảo sứ giả của Sở:

- Ngàn vàng là cái lợi lớn đấy, khanh tướng là một vị tôn quí đấy. (Nhưng này) ông có thấy con bò làm vật hi sinh trong lễ tế Giao không? Người ta nuôi nó mấy năm, cho nó bận áo gấm thêu đủ màu để dắt nó vào thái miếu. Lúc đó, giá nó muốn làm một con heo con cô độc, phỏng có được chăng? Thôi, ông đi ngay đi, đừng làm ô uế ta nữa. Ta thà ngao du trong cái rãnh bẩn cho thích chí chớ không chịu trói buộc tấm thân vì việc nước. Suốt đời ta không làm quan đâu, để thoả lòng ta!”.

Trong bộ Trang tử, truyện đó được chép lại hai lần. Một lần trong bài XXXII.12:

“Một ông vua muốn mời Trang tử ra làm quan. Trang tử đáp sứ giả:

- Ông có thấy con bò để tế đấy không? Người ta trùm cho nó tấm gấm thêu, cho nó ăn cỏ và đậu lớn, để ngày kia dắt nó lại thái miếu. Lúc đó nó có muốn làm một con bê cô độc, phỏng có được chăng?”.

Bài đó gần y hệt đoạn văn trong Sử kí, chắc cùng một nguồn gốc. Còn một bài nữa, nghệ thuật cao hơn và thường được nhiều sách trích dẫn hơn, tức bài XVII.5:

“Trang tử câu trên sông Bộc. Vua Sở phái hai vị đại phu lại báo trước “sẽ xin đem việc nước lại làm phiền ông”.

Trang tử vẫn cầm cần câu, không ngoảnh lại, mà đáp:

- Tôi nghe nước Sở có một con rùa thần, chết đã ba ngàn năm, nhà vua gói nó vào chiếc khăn, cất trong cái hộp ở trên miếu đường. Con rùa ấy chịu chết mà lưu lại bộ xương cho người ta thờ hay thích sống mà lết cái đuôi trong bùn?

Hai vị đại phu đáp:

- Thà sống mà lết cái đuôi trong bùn còn hơn.

Trang tử bảo:

- Vậy hai ông về đi! Tôi cũng thích lết cái đuôi trong bùn đây”.

Ba tài liệu đó cho thấy những cố sự về Trang chép trong các sách, dù có thể tin được thì cũng chỉ đúng một phần thôi, về đại ý thôi, còn về chi tiết thì mỗi tác giả có thể thêm bớt, sửa đổi. Như ở đây, ta chỉ nên nhớ một điều là Trang không chịu làm quan mà thích sống tự do, thái độ đó rất hợp với tư tưởng của Trang trong bài I.1 và II.4.

Bài I.1, Trang bảo:

“Ông Liệt tử cưỡi gió mà bay, thật nhẹ nhàng, khoan khoái, mười lăm ngày rồi về. Có phúc lớn như ông thật hiếm ở đời, tuy khỏi phải đi, nhưng ông vẫn còn tùy thuộc một cái gì - do hữu sở đãi - (nghĩa là còn phải đợi cho gió nổi lên).

Đến như hạng người làm chủ được cái chính đạo của trời đất, chế ngự được lục khí để ngao du trong vũ trụ vô biên, thì còn tùy thuộc cái gì nữa đâu”.

Một người không muốn tuỳ thuộc một cái gì, thì đâu chịu giam mình trong vòng danh lợi. Đến như con trĩ ở trong chằm kia, thà chịu khó nhọc kiếm ăn (cứ mười bước lại phải mổ một thức ăn, trăm bước lại phải uống) chứ không chịu bị nhốt để người ta nuôi, (bài III.4), huống hồ là ông. Ông trọng tự do hơn hết thảy những gì ở đời, muốn được hoàn toàn tự do. Đó là nét nổi bật nhất trong cá tính của ông.

Ông nghĩ sống trong một thời đại loạn, nếu lỡ có tài thì cũng nên giấu tài đi, mới mong được hưởng hết tuổi thọ của trời, như cái cây lớn cành lá sum suê vì gỗ xấu mà khỏi bị đốn trong bài XX.1. (Điểm này, tôi sẽ xét thêm trong một chương sau).

Vì có tinh thần trọng tự do, tự tại, khinh phú quí đó, nên Trang cực kì cay độc mà dí dỏm với hạng vô tài mà khoe khoang khi được vua thưởng. Bài XXXII.6 chép:

“Một người nước Tống tên là Tào Thương được vua Tống sai đi sứ qua Tần, khi đi chỉ có năm cỗ xe, vua Tần bằng lòng ông ta lắm, cho một trăm cỗ. Về tới Tống, ông ta gặp Trang tử, bảo:

- Ở trong một đường hẻm trong một xóm nghèo khổ, quẫn bách tới nỗi phải bện dép để sống, đói tới nỗi cổ ngẳng, mặt xanh xao, đó là sở đoản của Thương tôi. Nhất đán gặp vua một nước vạn cỗ xe rồi được tặng một trăm cỗ xe, đó là sở trường của Thương tôi.

Trang tử đáp:

- Vua Tần bị bệnh, vời một y sĩ tới trị. Y sĩ mổ một cái nhọt lớn, vua Tần thưởng cho một cỗ xe; còn kẻ nào liếm trĩ ông thì ông thưởng cho năm cỗ xe. Việc càng đê tiện thì càng được thưởng nhiều. Phải ông trị bệnh trĩ cho vua Tần không, sao mà được thưởng nhiều xe như vậy? Thôi ông cút đi”.

Truyện đó đáng cho vợ con những kẻ giàu sang trong thời loạn suy gẫm.

Y như nọc rắn phun từ miệng Trang ra vậy. Ai bảo kẻ kia dám trêu ông, mỉa ông nghèo đói. Bình thường đối với hạng ham danh lợi đó, ông chỉ ôn tồn răn bảo, và luôn luôn dùng những ví dụ, những hình ảnh lạ để đập mạnh vào óc kẻ đối thoại, như trong bài XXXII.11:

“Một người lại bái kiến vua Tống, được ân tứ mười cỗ xe, đánh mười cỗ xe đó lại khoe Trang tử. Trang tử bảo:

- Trên bờ Hoàng Hà có một gia đình nghèo, sống nhờ nghề đan cỏ ngải. Một hôm một người con lặn xuống vực, vớt được một viên ngọc châu đáng giá ngàn vàng. Người cha bảo con: “Lấy một phiến đá đập bể nó đi! Một viên ngọc đáng giá ngàn vàng tất phải ở dưới cằm một con rồng đen trong một vực sâu chín đợt. Con lấy được nó chắc là trong khi con rồng đó ngủ; nó tỉnh dậy thì còn gì là đời con nữa!”. Nước Tống ngày nay còn sâu hơn cái vực chín đợt, mà vua Tống còn hung dữ hơn con rồng đen nữa. Chú được mười cỗ xe đó chắc là trong lúc ông ta ngủ; ông ấy mà tỉnh dậy thì tất chú bị nát thây mất”.

Một điểm đáng để ý nữa trong cá tính của Trang là vui sống. Trong Nội thiên có tới năm sáu lần ông cho được “hưởng hết tuổi trời” là một hạnh phúc lớn.

Bài XXVI.8 ông bảo:

“Nếu tự mình tự thích ý được thì đi đâu mà không thích ý? Nếu tự mình không thích ý được thì dù đi đâu cũng không thích ý được… Chỉ bậc chí đức là vui vẻ sống với người đồng thời mà không theo thành kiến của họ…”.

Bài đó do người đời sau viết, nhưng chúng ta có thể tin được là diễn đúng quan niệm của ông về nhân sinh.

Về quan niệm của ông đối với sinh tử, trong một chương sau, tôi sẽ xét kĩ, đây tôi chỉ xin dẫn ít cố sự cho thấy tin thần rất khoáng đạt của ông thôi.

Bài XVIII.2 rất nổi danh, được gọi là bài Trang tử cổ bồn, và tích Trang tử cổ bồn rất thường diễn trên sân khấu thời xưa. Bài đó như sau:

“Vợ Trang tử chết, Huệ tử lại điếu, thấy Trang tử ngồi xoạc chân ra, gõ nhịp vào một cái vò[7] mà hát, bèn bảo:

- Ăn ở với người ta, người ta nuôi con cho, nay người ta chết, chẳng khóc là bậy rồi, lại còn hát gõ nhịp vào cái vò, chẳng là quá tệ ư?

Trang tử đáp:

- Không phải vậy. Khi nhà tôi mới mất, làm sao tôi không thương xót? Nhưng rồi nghĩ lại thấy lúc đầu nhà tôi vốn không có sinh mệnh; chẳng những không có sinh mệnh mà còn không có cả hình thể nữa; chẳng những không có hình thể mà đến cái khí cũng không có nữa. Hỗn tạp ở trong cái khoảng thấp thoáng, mập mờ mà biến ra thành khí, khí biến ra thành hình, hình biến ra thành sinh mệnh, bây giờ sinh lại biến ra thành tử, có khác gì bốn mùa tuần hoàn đâu. Nay nhà tôi nghỉ yên trong cái “Nhà lớn” (tức trời đất) mà tôi còn ồn ào khóc lóc ở bên cạnh thì tôi không hiểu lẽ sống chết rồi. Vì vậy mà tôi không khóc”.

Tư tưởng trong bài này hợp với tư tưởng của Trang trong Nội thiên, nhưng tác giả chắc tưởng tượng thêm, cho Trang tử ngồi xoạc chân, gõ nhịp mà hát, để câu chuyện thêm hấp dẫn. Trang vốn coi sinh tử như nhau (tề sinh tử), chỉ là những biến hoá tự nhiên như trên cái vòng tròn, không phân biệt đâu là thuỷ, là chung vì “chung” của giai đoạn này cũng “thuỷ” của giai đoạn sau, vì vậy vợ chết Trang tử không thấy làm buồn mà khóc, nhưng tất cũng không lấy đó làm vui cho vợ, tới nỗi gõ nhịp mà ca hát[8].

Thú vị hơn nữa là bài XXXII.13 tả lúc Trang tử hấp hối: môn sinh bàn với nhau sẽ hậu táng. Ông nghe được bảo:

“- Đừng. Ta đã có trời đất làm quan quách, mặt trời mặt trăng làm ngọc bích, các tinh tú làm ngọc châu, vạn vật sẽ đưa ma ta, như vậy đồ táng ta chẳng đủ rồi sao? Còn phải thêm gì nữa?

Môn sinh đáp:

- Chúng con sợ quạ và diều hâu sẽ rỉa xác thầy.

Trang tử bảo:

- Tại trên mặt đất thì bị quạ và diều hâu rỉa, ở dưới đất thì bị kiến và sâu đục (đằng nào cũng vậy). Tại sao các con lại thiên vị, cướp của các loài trên mà cho các loài dưới?”

Tắt thở tới nơi mà ông lão tám chục tuổi đó còn dí dỏm được như vậy!

Những bài văn tả lúc chết của các triết gia lớn đều bất hủ, vì chứa những tư tưởng cao đẹp, mà lại cho ta hiểu rõ thêm chí hướng, tư cách tuyệt vời của họ.

Trong bộ Hương sắc trong vườn văn[9] chương XIII, tôi đã dịch đoạn chép lúc Socrate thản nhiên đưa chén thuốc độc lên uống một hơi, thấy đám môn sinh ròng ròng nước mắt, ông rầy: ‘Khóc lóc gì kì vậy? Thầy đã đuổi đàn bà ra khỏi là để tránh cái phiền đó vì thầy muốn được chết yên ổn. Thôi, bình tĩnh mà an mệnh cả đi”.

Trong cuốn Nhà giáo họ Khổng[10] tôi cũng đã thuật lại lúc Khổng tử biết mình sắp chết, than thở xã hội vẫn chưa hết loạn, rồi đây không còn ai thay mình được nữa.

Tôi xin dịch thêm dưới đây hai bài 5 và 6 chương Thái bá (Luận ngữ) lúc hấp hối của Tăng tử:

“Tăng tử đau nặng (sắp mất) cho gọi các đệ tử tới bảo: Dở tay ta ra xem, dở chân ta ra xem (có toàn vẹn không) nào. Kinh Thi có câu: “Phải nơm nớp, chăm chăm như xuống vực sâu, như đi trên giá mỏng”. Từ đây về sau ta mới biết chắc rằng ta giữ được (thân ta) khỏi các điều hư hỏng, tàn tật đó các trò”.

Rồi khi Mạnh Kính tử (một đại phu nước Lỗ) lại thăm, ông nói: “Con chim sắp chết thì kêu lên tiếng bi thảm, con người sắp chết thì thốt ra lời đạo đức. Bậc quân tử (người trị dân, trỏ Mạnh Kính tử) nên giữ được ba điều này: dong mạo đừng bạo ngược, ngạo mạn, nét mặt phải thành tín, ngay thật; lời nói đừng nên thô bỉ, bội nghịch…”.

Tăng tử không buồn vì sắp chết, nhưng chỉ là một nhà đạo đức mừng rằng suốt đời không mắc tội gì, đã giữ được trọn vẹn thân thể, không làm nhục cha mẹ; và còn chút hơi thở thì khi gặp dịp, ông còn khuyên người ta thành tín, khiêm tốn, nhã nhặn.

Khổng tử chí lớn hơn nhiều, muốn làm một nhà cải tạo xã hội, gắng sức suốt đời, nhưng xã hội vẫn loạn lạc, dân chúng vẫn điêu linh, nên ông buồn, không phải buồn cho ông mà buồn cho thiên hạ rồi đây sau khi ông mất, sẽ còn khốn khổ hơn nữa. Nhiệt tâm của ông lúc đó vẫn chưa tắt[11].

Socrate bình thản hơn; ông cũng muốn giúp nước nhưng kẻ cầm quyền không hiểu ông, bắt ông chết thì ông chết, mà ông không oán ai cả.

Trang tử khoáng đạt hơn cả, vui vẻ để cho quạ, diều rỉa xác. Ông còn mắng đùa môn sinh nữa. Và con người đó nghệ sĩ làm sao khi tưởng tượng đám tang của mình có trời đất làm quan quách, trăng sao làm châu ngọc, có vạn vật tiễn đưa. Thật là hoà đồng với vũ trụ. Trong văn học sử nhân loại, chắc không có đoạn văn thứ hai nào như bài XXXII.3 đó.

Trang tử vốn chủ trương không nên tranh biện, vì tranh biện thì kẻ thắng chưa nhất định là phải, kẻ thua không nhất định là trái; hơn nữa tranh biện không thuyết phục được ai cả, mà cũng không thể dùng ai làm trọng tài để phê phán ai phải ai trái được (bài II.12 – Tôi sẽ trở lại điểm này trong một chương sau). Vậy mà trong bộ Trang tử, chúng ta thấy có tới khoảng một chục chỗ Trang tranh biện với Huệ Thi. Chẳng hạn bài XXIV.5 Trang tử hỏi Huệ Thi:

“- Người bắn cung vô tình bắn trúng đích thì có thể gọi là thiện xạ rồi kết luận rằng mọi người đều là Hậu Nghệ (một người bắn rất giỏi thời thượng cổ) cả không?

Huệ tử đáp:

- Được.

Trang tử lại hỏi:

- Nếu trong thiên hạ không có chân lí chung cho mọi người mà ai cũng tự cho mình là nắm được chân lí, thì có thể bảo rằng mọi người đều là minh triết như vua Nghiêu được không?

Huệ tử đáp:

- Được.

Trang tử bảo:

- Vậy thì Nho, Mặc, Dương Chu, Công Tôn Long là bốn, với ông nữa là năm, nhà nào nắm được chân lí?

(…)

Huệ tử đáp:

- Nay các phái Nho, Mặc, Dương Chu và Công Tôn Long tranh biện với tôi, dùng lời lẽ công kích nhau, lớn tiếng áp đảo nhau, mà không ai bác bẻ được tôi, còn gì sướng cho bằng”.

Bài đó cho thấy Huệ Thi chỉ là một nhà nguỵ biện như Công Tôn Long (Chương XXXIII, bài 9 có chép mấy điều nguỵ biện của ông ta). Hai lần ông ta đáp bướng: “Được” – “Được”, lần cuối mới thú thực rằng tranh biện chẳng phải để tìm chân lí gì cả, mà chỉ cốt tìm cái vui là không ai bác bẻ được mình.

Rõ rằng hơn nữa là lần Trang và Huệ đấu khẩu với nhau về cái vui của cá (XVII.7):

“Trang tử cùng với Huệ tử đi dạo trên cầu sông Hào, Trang tử bảo:

- Đàn cá “du” (một loại cá trắng) kia thung dung bơi lội, đó là cái vui của cá.

Huệ tử bẻ:

- Ông không phải là cá, làm sao biết được cái vui của cá?

Trang tử đáp:

- Ông không phải là tôi, làm sao biết được rằng tôi không biết cái vui của cá?

- Tôi không phải là ông, dĩ nhiên tôi không biết được ông, nhưng ông không phải là cá thì hiển nhiên là ông không biết cái vui của cá.

Trang tử bảo:

- Xin trở lại câu hỏi đầu tiên. Ông hỏi tôi làm sao biết được cái vui của cá. Như vậy tức là ông nhận rằng tôi đã biết cái vui đó rồi (nên mới hỏi làm sao tôi biết được?). Làm sao biết tôi được ư? Thì đây: tôi đứng trên cầu sông Hào này mà biết được.

Có người giải thích bài này bảo Trang tử vì đồng hoá với vạn vật nên biết được cái vui của cá, còn Huệ tử thì không.

Tôi nghĩ ai nhìn cá thung thăng bơi lội dưới dòng hoặc nghe chim ríu rít hót trên cành thì cũng thấy vui và cho rằng chúng cũng vui. Tâm lí đó rất thông thường, chẳng cần chủ trương “vật hoá” như Trang mới có ý nghĩ đó. Có thể chính Huệ tử cũng thấy cá vui, mà chỉ bắt bẻ bạn để nghe cãi lí thôi. Và Trang đã cãi lí y như các nhà trong phái nguỵ biện. Nếu chỉ có một bài này, thì tôi có thể ngờ rằng do người đời sau bịa ra; nhưng còn bài XXIV.5 đã dẫn trên, và nhiều bài khác nữa, hai nhà tranh biện về lẽ vô dụng, hữu dụng (bài I.5, XXVI.7) hoặc thế nào là hữu tình, vô tình (V.6). Nhất là bài XXIV.6, xác nhận rằng Trang rất thích tranh biện với Huệ Thi, nên khi Huệ Thi mất rồi, Trang tiếc như tiếc một người tri kỉ.

Lần đó Trang đi qua ngang mộ Huệ tử, quay lại nói với người phía sau:

“Một người đất Dĩnh (nước Sở) đầu mũi dính một cục đất sét trắng lớn bằng cánh con ruồi, nhờ người thợ mộc tên là Thạch dùng lưỡi rìu đẽo đi. Thợ mộc Thạch múa rìu vù vù như tiếng gió, đẽo văng cục đất sét mà không đụng tới mũi, và người kia cũng không hề thất sắc – (Sức tưởng của Trang thật dồi dào, kì dị) – Vua Tống Nguyên Quân hay truyện đó, cho vời thợ mộc Thạch lại bảo: “Thử làm lại với quả nhân xem nào”. Thạch từ chối: “Thần đã làm được việc đó, nhưng đối thủ của thần chết đã lâu rồi”. – (Ý muốn nói Tống Nguyên Quân không thể bình tĩnh, can đảm như người đất Dĩnh kia được).

Rồi Trang tử kết: “Từ khi Huệ tử mất, đối thủ của tôi cũng chết rồi, tôi không còn ai để đàm luận nữa”.

Nhắc lại chuyện đó, nhiều tác giả như Hoàng Cẩm Hoành chỉ khen Trang tử là một người chí tình, đa cảm, thương tiếc bạn, mà không nhận ra rằng Trang cũng ham tranh biện lắm, sở dĩ thương tiếc bạn là vì mất một đối thủ để tranh biện.

Khía cạnh tính tình đó trái ngược với tư tưởng của Trang, nhưng dù là triết gia thì người ta vẫn có những nét mâu thuẫn như chúng ta – có lẽ triết gia còn có nhiều mâu thuẫn hơn chúng ta nữa – nên chúng ta không nên lấy làm lạ. Khổng tử suốt đời lo cải tạo xã hội, mà trong thâm tâm lại chỉ mong mùa xuân, dắt bọn trẻ đi tắm ở sông Nghi, rồi lên hứng mát ở đền Vũ Vu; tính tình rất nghiêm trang, đạo mạo mà có lúc lại nói đùa với môn sinh; dạy ba ngàn học trò mà có mỗi một cậu con trai thì lại không biết cậu đã học những gì. (J.J.[12] Rousseau tệ hơn nữa, viết một cuốn về giáo dục, cuốn Emile, mà con thì đã không dạy, cũng không nuôi).

Tóm lại, Trang tử có một cá tính rất phong phú, đặc biệt: khoáng đạt, xuất thế, - sống bình dị, yêu tự do, nhàn tản, tiêu dao, ông cao ngạo, không coi vua chúa ra gì cả, kẻ nào làm trái ý ông, nhất là hay khoe khoang thì ông không giữ lời, mắng cho tàn nhẫn, nhưng ông cũng có giọng trào phúng, đùa cợt; tranh biện với ai thì ông rất lanh trí, hoạt bát, sức tưởng tượng của ông thiên biến vạn hoá, tạo ra những ngụ ngôn kì dị, khiến đối phương lúng túng, không sao thắng được ông, về phương diện đó ông thực là một thiên tài. Ông trái hẳn với Mạnh tử: Mạnh là một chính trị gia hơn là một triết gia, Trang là một nghệ sĩ hơn là một triết gia; Mạnh là một đại trượng phu giữ đúng nguyên tắc, Trang là một ẩn sĩ, không coi cái gì là quan trọng trừ sự tự do, sống theo sở thích của mình.

Đó là chân dung của Trang theo những cố sự trong Trang tử. Những cố sự đó chỉ đáng tin một phần thôi, vì do nhiều người đời sau ghi lại – những người này không phải hết thảy là môn sinh của Trang – mãi tới đời Hán mới được thu thập thành sách lưu truyền đến nay như chương sau chúng ta sẽ thấy.

Nguyễn Hiến Lê

Trang Tử và Nam Hoa Kinh

Giới thiệu và chú dịch: Nguyễn Hiến Lê

Phần I - Chương 1

THỜI ĐẠI VÀ CUỘC SỐNG



THỜI ĐẠI

Trang tử kém Mạnh tử khoảng mười tuổi, sống ở giữa thời Chiến Quốc (-403 -221). Ông sanh vào khoảng -360, trên 40 năm sau khi thời đại loạn đó bắt đầu, và 60 năm sau ông mất, nó cũng chấm dứt. Vậy ông chứng kiến được hầu hết những biến chuyển lớn của thời đó: Tần dùng Vệ Ưởng để biến pháp mà hùng cường lên, xưng bá (-343) rồi xưng vương (-325); sáu nước kia (Yên, Triệu, Hàn, Nguỵ, Tề, Sở) bèn hợp tung để chống Tần (-333), nhưng phe hợp tung mau tan (-332), Trương Nghi đề nghị thuyết liên hoành (-331) để liên hiệp lục quốc mà tôn Tần, do đó mà Tần lại càng mạnh thêm, thắng được Nguỵ, Hàn, Sở, rồi xưng đế (-288), diệt Tống, ức hiếp Triệu. Trước khi mất, chắc Trang tử đã đoán được xu thế của thời đại; thế nào rồi Tần cũng sẽ thay Chu, làm thiên tử mà thống nhất Trung Quốc.

Như trong Chiến Quốc Sách[1] trang 10, chúng tôi đã nói, sự dùng năm -403 để phân chia hai thời Xuân Thu và Chiến Quốc không dựa trên một biến cố nào quan trọng (năm đó chỉ là năm lên ngôi của Uy Liệt vương nhà Chu), mà lịch sử và xã hội Trung Hoa suốt hai thời kì Xuân Thu và Chiến Quốc biến chuyển liên tục, không hề gián đoạn, từ chế độ phong kiến tới chế độ quân chủ chuyên chế, từ tình trạng phân li tới tình trạng thống nhất.

Tuy nhiên, xét chung, chúng ta vẫn thấy hai thời đó có nhiều điểm khác nhau:

1. Xuân Thu là thời các vị bá chủ (như vua Hoàn công nước Tề) mượn uy danh của Thiên tử, tức vua Chu mà ra lệnh các chư hầu; Thiên tử thời đó tuy không có quyền, nhưng còn danh phận, các vị bá chủ chưa dám khinh; thời Chiến Quốc, trái lại, các vua nước lớn như Tần, Tề, Nguỵ, Sở… đều xưng vương, chẳng coi Thiên tử ra gì cả;

2. Thời Xuân Thu, chế độ chính trị chỉ biến chuyển lần lần thôi, vì các vua chúa còn trọng dư luận ít nhiều; qua thời Chiến Quốc, vua các cường quốc không đoái gì tới cổ pháp, cổ lễ, can đảm làm những cuộc cách mạng về pháp độ, như cuộc biến pháp của Vệ Ưởng năm -359 đời Tần Hiếu công;

3. Thời Xuân Thu giới quý tộc còn nắm được nhiều quyền lớn, cha truyền con nối, qua thời Chiến Quốc, đặc quyền đó gần đó gần như hoàn toàn bị diệt, và rất nhiều người trong giới bình dân lên làm khanh tướng, như Tô Tần, Trương Nghi…;

4. Chiến tranh trong thời Xuân Thu tuy nhiều nhưng không kịch liệt, còn giữ được cái luật “quân tử” không giết kẻ bại; thời Chiến Quốc, chiến tranh tàn khốc hơn nhiều, có trận chết hàng vạn người (sát nhân doanh dã, sát nhân doanh thành), cho nên dân tình cực kì điêu đứng;

5. Phép “tỉnh điền” không rõ bị phế bỏ lần lần từ thời nào, nhưng chắc chắn là cuộc biến pháp của Vệ Ưởng, thời Chiến Quốc, được nhiều nước khác theo, Mạnh tử hô hào tái lập nó mà không được;

6. Thời Xuân Thu, trọng tâm của kinh tế là nông nghiệp; qua thời Chiến Quốc, công và thương phát đạt mạnh, địa vị mỗi ngày một quan trọng hơn, mà các thị trấn như Hàm Dương (Tần), Lâm Tri (Tề), Hàm Đan (Triệu) rất phồn thịnh; và bọn cự thương như Lã Bất Vi có thể dùng thế lực đồng tiền xâm nhập chính trị;

7. Quan trọng nhất là sự phát triển về tư tưởng. Trong thời Xuân Thu, từ khi Khổng tử sanh (-551) tới khi Liệt tử mất (-349), suốt hai trăm năm chỉ có mươi triết gia: Khổng tử, Tử Tư, Mặc tử, Dương tử, Lão Đam, Quan Doãn, Liệt Ngự Khấu; qua thời Chiến Quốc, số triết gia có tiếng tăm lên tới trên hai chục nhà, ấy là chưa kể các chính trị gia, biện sĩ, thuật sĩ.

Theo Sử kí của Tư Mã Thiên, bọn du thuyết được Tề Tuyên vương tặng chức thượng đại phu, chỉ bàn suông chứ không dự vào việc chính trị, như Trâu Diễn, Thuần Vu Khôn, Tiếp tử, Hoàn Uyên… tới 76 người, còn số học sĩ ở Tề có tới mấy trăm ngàn người (chương 46: Điền Hoàn thế gia).

Nguyên nhân chính là thời đó đại loạn, người nào cũng có tư tưởng cũng muốn đưa ra một thuyết để cứu đời; mà các vua chúa nào muốn làm bá chủ Trung Quốc cũng tôn trọng kẻ sĩ, mời họ làm cố vấn. Do đó, ngôn luận được hoàn toàn tự do. Đúng là thời “trăm hoa đua nở”; cho tới nay, trên hai ngàn năm sau, Trung Hoa không còn được thấy lại cảnh phồn thịnh đó nữa.

Dĩ nhiên, mỗi triết gia chỉ nắm được một phần chân lí, như tác giả chương Thiên hạ, phần Tạp thiên của Nam Hoa kinh đã nhận định:

“… học phái hoặc kĩ thuật của trăm nhà đều có sở trường, thời cơ thích hợp thì đều có chỗ dùng được đấy, nhưng không bao quát được hết: họ chỉ là những nhà thiên kiến… Họ mổ xẻ cái thuần mĩ của trời đất, phân tích cái lí của vạn vật, cái nhất quán của cổ nhân… lập ra những phương thuật riêng. Buồn thay! Học phái của bách gia cứ phân tán ra trăm ngả tới cực đoan mà không trở về cái gốc… Đạo thuật trong thiên hạ sắp bị chẻ nhỏ ra rồi”. (đoạn 3).

Bất kì về vấn đề nào: vũ trụ, Đạo và tính, chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, võ bị, danh và thực… họ cũng đưa ra được hai ba lí thuyết để chống đối nhau, phủ nhận nhau, không khí thật kích thích, tạo nên một hoàng kim thời đại của triết học Trung Hoa.

Dưới đây tôi chỉ ghi tên một số triết gia đồng thời với Trang Chu, hoặc được nhắc tới trong Trang tử (cũng gọi là Nam Hoa kinh) để độc giả đỡ phải tìm kiếm mà dễ nhận định được thời đại. Những năm sinh và mất của mỗi nhà đều theo Vũ Đồng trong Trung Quốc triết học đại cương (Thương vụ ấn thư quán – 1958), và đều phỏng chừng, có thể sai vài ba chục năm.


Xét bảng trên[1], chúng ta thấy khi Lão tử và Liệt tử chết, Trang tử hãy còn nhỏ; những triết gia đồng thời với Trang và lớn hơn Trang từ 10 đến 20 tuổi là Tống Kiên, Bành Mông, Mạnh tử, Huệ Thi, Điền Biền, Thận Đáo… Công Tôn Long và Tuân tử đều nhỏ hơn Trang khoảng 30 tuổi. Sau cùng khi Trang mất thì Hàn Phi mới ra đời.

Tóm lại Trang sống vào giữa thời phát triển mạnh mẽ nhất của triết học Trung Quốc và mặc dầu không hề nhắc tới Tuân tử, ông có thể được biết tất cả các triết thuyết thời Chiến Quốc, trừ học thuyết Hàn Phi.

ĐỜI SỐNG

Trong số các triết gia lớn thời Tiên Tần, chỉ có Khổng tử và Mạnh tử là ta biết được tạm đủ và khá chắc chắn về đời sống: Khổng tử nhờ làm quan ở Lỗ và nhờ bộ Luận ngữ do môn sinh chép; Mạnh nhờ làm khách khanh cho Lương, Tề, Đằng, Tống, nhất là nhờ bộ Mạnh tử do môn sinh chép (ông duyệt lại) ngay khi ông còn sống[2].

Còn những nhà khác như Dương tử, Lão tử, Trang tử một phần vì ẩn dật, một phần vì không dạy học hoặc dạy ít học trò nên đời sống không được ghi chép lại.

Về Trang tử ta chỉ có mỗi một tài liệu gồm khoảng hai trăm chữ trong chương 63 bộ Sử kí. Không hiểu tại sao Tư Mã Thiên lại sắp chung Lão tử, Trang tử với Thân Bất Hại và Hàn Phi. Ông cho chúng ta biết:

* Trang tử tên là Chu, người đất Mông, đồng thời với Lương Huệ vương (-370 -319), Tề Tuyên vương (-319 -301), và có làm một chức lại trong một xưởng chế tạo sơn ở đất Mông.

* Trang học rộng, viết một bộ sách gồm trên 10 vạn chữ, đại để là ngụ ngôn; có những chương Ngư phủ, Đạo chích, Khư khiếp[3] chỉ trích Khổng Mặc và làm sáng tỏ học thuật của Lão tử. Văn ông hay, lời lẽ có thứ tự, khéo chỉ việc tả tình, tuy hạng túc học đương thời cũng khó tự gỡ cho mình được khi bị ông bài bác, tư tưởng của ông đặc biệt quá, nên các vương công thời đó không dùng.

Sở Uy vương nghe tiếng ông hiền, vời ông làm tướng quốc, ông từ chối, muốn được sống thoả ý, không chịu bị trói buộc.

Tư Mã Thiên không cho biết Trang tử tên tự là gì, sanh năm nào, mất năm nào, và đất Mông thuộc nước nào.

Về tên tự, có sách bảo là Tử Hưu, có sách chép là Tử Mộc (Hưu và Mộc viết hơi giống nhau), trong Mạnh tử lại gọi là Tử Mạc (Mạc và Mộc đọc hơi giống nhau)”.

Về năm sanh và năm tử, cũng có rất nhiều thuyết khác nhau khoảng năm chục năm.

Thuyết xa nhất là sanh năm -398, thuyết gần nhất là sanh năm -350, cách nhau: 48 năm. Đa số, như Lương Khải Siêu, Trương Thành Thu, Trang Văn Thọ, Mã Di Sơ… đoán khoảng -370.

Năm tử: xa nhất là -317, gần nhất là -270, cách nhau: 47 năm. Đa số đoán vào khoảng -290 hay -295.

Trong bảng ở trang 13, tôi theo thuyết mới nhất của Vũ Đồng: -369, -280. Vũ Đồng bảo Trang chịu ảnh hưởng của Điền Biền và Thận Đáo, chắc phải nhỏ hơn hai nhà này. Tuy nhiên đó cũng chỉ là một giả thuyết[4] có thể gần đúng, chứ không đáng tin hẳn.

Về nơi sanh, các học giả đều bảo là đất Mông, nhưng đất Mông ở đâu, thuộc nước nào thì ý kiến cũng phân vân. Người thì bảo đất Mông tức Mông Trạch, người thì bảo là Mông huyện hoặc Mông thành. Bùi Nhân trong Tập giải[5], dẫn bộ Địa lí chí bảo: “Huyện Mông thuộc nước Lương”; Tư Mã Trinh trong Sách ẩn, dẫn lời Lưu Hướng trong Biệt lục, bảo Trang tử là người đất Mông nước Tống; Cao Dụ chú giải bộ Lữ Thị Xuân Thu cùng ý kiến với Tư Mã Trinh. Chu tử đời Tống lại cho Trang tử là người nước Sở. Hoàng Cẩm Hoành trong Trang tử độc bản (Tam dân thư cục – 1974) sau khi nghiên cứu kĩ lưỡng các thuyết, kết luận rằng đất Mông đó là thành Mông thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay; khi Trang tử ra đời, đất đó vốn là của nước Tống, sau khi Trang mất, Tống bị diệt, ba nước Sở, Nguỵ, Tề chia nhau đất đai của Tống và đất Mông từ đó thuộc về Nguỵ (tức Lương), vì vậy mà bảo Mông thuộc về Nguỵ hoặc Tống cũng được.

Tóm lại về đời của Trang tử chỉ có mấy điểm này là chắc chắn: Ông sinh ở đất Mông thời đó thuộc Tống (Tống giáp biên giới phía bắc của Sở), sống vào thế kỉ thứ 4 trước T.L., đồng thời với Lương Huệ vương và Tề Tuyên vương (tức đồng thời với Mạnh tử), hồi trẻ làm một chức quan nhỏ, coi một xưởng chế tạo sơn, sau ở ẩn, viết một bộ sách, người đời sau gọi là Trang tử, tư tưởng chịu ảnh hưởng của Lão tử.

Muốn biết thêm về tình cảnh cùng cá tính của ông, ta phải tìm trong bộ Trang tử.

Chúng tôi đếm được trên dưới ba chục bài chép cố sự về Trang. Trừ một số bài hoặc chương chúng ta biết chắc là sai vì vô lí, chẳng hạn bài XXI.5[6] cho Trang tử lại yết kiến Lỗ Ai công, mà Lỗ Ai công mất trước khi Trang tử sanh khoảng trăm năm, hoặc chương XXX bàn về thuật đánh kiếm, đem những tư tưởng không có chỗ nào hợp với Trang đặt vào miệng của Trang…; trừ những bài đó không sao tin được, chỉ có thể coi là ngụ ngôn, còn những bài khác, tuy không hoàn toàn đáng tin hẳn, nhưng có thể tạm dùng để hiểu về Trang.

Những bài này chia làm hai loại:

- những bài dẫn lời Trang bàn về đạo lí, như bài XXII.6 Trang giảng về Đạo cho Đông Quách tử, bài XIV.2 Trang giảng về đức nhân cho viên Thái tể Đãng…; những bài trong loại này nếu tư tưởng có thật của Trang thì tôi cũng không dẫn trong chương về tiểu sử này mà sẽ dành lại cho chương về học thuyết của Trang.

- những bài có tính cách cố sự, như bài XVII.5, Trang từ chối lời vua Sở mời ra làm quan; bài XVIII.2, Trang gõ nhịp vào cái vò mà hát khi vợ chết; bài XXIV.6, Trang tỏ ý tiếc nhớ Huệ Thi vì Huệ Thi mất rồi, không còn ai để đàm luận nữa…; những bài trong loại này khá nhiều, tôi sẽ trích dẫn một số cho ta đoán được đời sống và tính tình của Trang.

Chúng ta không biết được chút gì về tuổi thơ của Trang cả: Gia đình ra sao? Thuộc giới nào trong xã hội? Hồi nhỏ học ai? Lớn lên lập gia đình vào thời nào? Sau khi goá vợ có tục huyền không? Có bao nhiêu con? Dạy con ra sao?...

Theo Tư Mã Thiên, ông làm một chức lại nhỏ ở quê nhà. Sau ông ở ẩn, không chịu ra làm quan, chắc chắn có dạy học vì có một số bài chép những lời ông nói với môn sinh, chẳng hạn bài XX.1, ông đáp môn sinh về hữu dụng và vô dụng sau khi chủ nhà ông ghé thăm, sai gia nhân giết ngỗng để đãi ông, hoặc bài XXXII.13, kể chuyện khi ông hấp hối, ngăn môn sinh không cho hậu táng.

Môn sinh chắc không đông, ông dạy họ những gì, họ đối với ông ra sao, ta cũng không biết. Có lẽ là một số người đã lớn thích học thuyết của ông, trọng tư cách ông, ở gần ông để nghe ông tuỳ hứng bàn về Đạo, về cách xử thế. Còn Thi, Thư, Lễ, Nhạc thì nhất định là ông không giảng tới.

Ông ít đi đâu, cũng như Lão tử, Liệt tử, và trái hẳn với Mạnh tử, Mặc tử.

Ông giao du cũng ít, cơ hồ chỉ thân với mỗi một người là Huệ Thi, một triết gia lớn hơn ông độ mươi tuổi, học rộng (theo chương XXXIII, có đến năm cỗ xe đầy sách), thuộc phái Mặc, làm tướng quốc cho Lương Huệ vương.

Có hai bài chép rằng Trang tử nghèo.

Bài XXVI.2: “Trang tử nghèo phải hỏi mượn lúa của Giám Hà Hầu [tức Nguỵ Văn Hầu]. Giám Hà Hầu bảo:

- Được. Đợi tôi thu được tiền thuế của một ấp rồi tôi sẽ cho mượn ba trăm đồng. Được không?

Trang Chu giận đỏ mặt lên, đáp:

- Hôm qua tôi đi lại đây, giữa đường nghe có tiếng gọi. Tôi ngoảnh lại thấy một con cá giếc nằm trong một vết bánh xe. Tôi hỏi nó: “Con giếc kia lại đó làm gì vậy?”. Nó đáp: “Tôi là thần sóng ở biển Đông, ông cho tôi một đấu, một thăng (phần mười đấu) nước để cứu sống tôi được không?”. Tôi bảo: “Được. Để tôi đi du thuyết vua Ngô và vua Việt đã rồi khi về sẽ dẫn nước Tây giang lại cứu anh, được chứ?”. Con giếc nổi giận, biến sắc, đáp: “Tôi vì ra khỏi nước, không có chỗ an thân, chỉ mong được một đấu, một thăng nước để sống. Ông nói như vậy thì tốt hơn, (khi trở về) ông nên lại hàng cá khô mà tìm tôi”.

Nếu là truyện thực thì Trang tử quả là nhanh trí và cương trực, không sợ làm bẽ mặt một vị chúa.

Lần khác (bài XX.6), Trang tử “bận áo vải thô mà vá, đi giầy thủng, cột lại bằng dây gai lại yết kiến vua Nguỵ” – có thể cũng lại là Nguỵ Văn Hầu trong bài trên.

Vua Nguỵ bảo:

- Sao mà tiên sinh khốn khổ như vậy?

Trang tử đáp:

- Nghèo chứ không khốn khổ. Kẻ sĩ không thi hành đạo đức thì mới khốn khổ. Áo vá, giầy thủng thì là nghèo chứ không phải khốn khổ. Như vậy là vì không gặp thời”.

Giọng Trang có vẻ bực tức, gay gắt. Rồi cũng như trong bài trên, ông đem loài vật ra kể truyện để mắng vua Nguỵ: con vượn khi ở trên các ngọn cây cao thì leo nhảy, tự đắc lắm như làm chúa một cõi, nhưng khi phải len lỏi trong đám cây thấp có gai thì run sợ, ngó trước ngó sau, gân cốt co lại, chỉ vì hoàn cảnh bất lợi nên không thi thố được tài năng

Sau cùng Trang kết:

“Ngày nay kẻ sĩ ở vào cái thời hôn quân loạn thần thì làm sao mà khỏi khốn khổ cho được. Chứng cớ là Tỉ Can bị moi tim đấy”.

Truyện này cũng chưa chắc đã có thực, nhưng cũng giống truyện trên: Trang tử lại tỏ tài ứng đối, tính tình khí khái mà cao ngạo nữa. Hễ trêu ông thì chỉ mang nhục thôi.

Ngay đối với bạn thân là Huệ Thi, ông cũng không nể mà còn đập một cách cay độc. Huệ Thi đang làm tể tướng nước Lương (tức nước Nguỵ sau khi dời đô qua Đại Lương), khi hay tin Trang tử qua Lương, sợ Trang tranh ngôi tể tướng của mình, sai người đi tìm khắp nước suốt ba ngày ba đêm. Khi tới nơi Trang thấu tâm lí đó của bạn, bảo:

- “Ông có biết một con chim ở phương Nam người ta gọi là con uyên sồ (một loài chim phượng) không? Khi nó cất cánh từ Nam hải mà lên Bắc hải, không phải là cây ngô đồng thì nó không đậu, không phải là hột luyện thì nó không ăn, không phải là nước suối ngọt thì nó không uống. Một con chim cú đương rỉa xác một con chuột thấy nó bay ngang [sợ nó tranh ăn], ngửng lên nhìn nó, kêu lên một tiếng lớn doạ nó. Nay ông vì (cái ngôi tể tướng) nước Lương mà cũng muốn kêu lên để doạ tôi sao?” (XVII.6)

Nếu là bịa thì truyện đó cũng hợp với tính tình ngạo mạn, khinh phú quí của Trang. Trang không chịu nhận một chức vụ lớn nhỏ nào ở triều đình. Sử kí của Tư Mã Thiên chép rằng:

“Vua Sở Uy vương nghe tiếng Trang Chu là người hiền, sai sứ giả mang hậu lễ lại rước, hứa sẽ phong làm tể tướng. Trang Chu cười bảo sứ giả của Sở:

- Ngàn vàng là cái lợi lớn đấy, khanh tướng là một vị tôn quí đấy. (Nhưng này) ông có thấy con bò làm vật hi sinh trong lễ tế Giao không? Người ta nuôi nó mấy năm, cho nó bận áo gấm thêu đủ màu để dắt nó vào thái miếu. Lúc đó, giá nó muốn làm một con heo con cô độc, phỏng có được chăng? Thôi, ông đi ngay đi, đừng làm ô uế ta nữa. Ta thà ngao du trong cái rãnh bẩn cho thích chí chớ không chịu trói buộc tấm thân vì việc nước. Suốt đời ta không làm quan đâu, để thoả lòng ta!”.

Trong bộ Trang tử, truyện đó được chép lại hai lần. Một lần trong bài XXXII.12:

“Một ông vua muốn mời Trang tử ra làm quan. Trang tử đáp sứ giả:

- Ông có thấy con bò để tế đấy không? Người ta trùm cho nó tấm gấm thêu, cho nó ăn cỏ và đậu lớn, để ngày kia dắt nó lại thái miếu. Lúc đó nó có muốn làm một con bê cô độc, phỏng có được chăng?”.

Bài đó gần y hệt đoạn văn trong Sử kí, chắc cùng một nguồn gốc. Còn một bài nữa, nghệ thuật cao hơn và thường được nhiều sách trích dẫn hơn, tức bài XVII.5:

“Trang tử câu trên sông Bộc. Vua Sở phái hai vị đại phu lại báo trước “sẽ xin đem việc nước lại làm phiền ông”.

Trang tử vẫn cầm cần câu, không ngoảnh lại, mà đáp:

- Tôi nghe nước Sở có một con rùa thần, chết đã ba ngàn năm, nhà vua gói nó vào chiếc khăn, cất trong cái hộp ở trên miếu đường. Con rùa ấy chịu chết mà lưu lại bộ xương cho người ta thờ hay thích sống mà lết cái đuôi trong bùn?

Hai vị đại phu đáp:

- Thà sống mà lết cái đuôi trong bùn còn hơn.

Trang tử bảo:

- Vậy hai ông về đi! Tôi cũng thích lết cái đuôi trong bùn đây”.

Ba tài liệu đó cho thấy những cố sự về Trang chép trong các sách, dù có thể tin được thì cũng chỉ đúng một phần thôi, về đại ý thôi, còn về chi tiết thì mỗi tác giả có thể thêm bớt, sửa đổi. Như ở đây, ta chỉ nên nhớ một điều là Trang không chịu làm quan mà thích sống tự do, thái độ đó rất hợp với tư tưởng của Trang trong bài I.1 và II.4.

Bài I.1, Trang bảo:

“Ông Liệt tử cưỡi gió mà bay, thật nhẹ nhàng, khoan khoái, mười lăm ngày rồi về. Có phúc lớn như ông thật hiếm ở đời, tuy khỏi phải đi, nhưng ông vẫn còn tùy thuộc một cái gì - do hữu sở đãi - (nghĩa là còn phải đợi cho gió nổi lên).

Đến như hạng người làm chủ được cái chính đạo của trời đất, chế ngự được lục khí để ngao du trong vũ trụ vô biên, thì còn tùy thuộc cái gì nữa đâu”.

Một người không muốn tuỳ thuộc một cái gì, thì đâu chịu giam mình trong vòng danh lợi. Đến như con trĩ ở trong chằm kia, thà chịu khó nhọc kiếm ăn (cứ mười bước lại phải mổ một thức ăn, trăm bước lại phải uống) chứ không chịu bị nhốt để người ta nuôi, (bài III.4), huống hồ là ông. Ông trọng tự do hơn hết thảy những gì ở đời, muốn được hoàn toàn tự do. Đó là nét nổi bật nhất trong cá tính của ông.

Ông nghĩ sống trong một thời đại loạn, nếu lỡ có tài thì cũng nên giấu tài đi, mới mong được hưởng hết tuổi thọ của trời, như cái cây lớn cành lá sum suê vì gỗ xấu mà khỏi bị đốn trong bài XX.1. (Điểm này, tôi sẽ xét thêm trong một chương sau).

Vì có tinh thần trọng tự do, tự tại, khinh phú quí đó, nên Trang cực kì cay độc mà dí dỏm với hạng vô tài mà khoe khoang khi được vua thưởng. Bài XXXII.6 chép:

“Một người nước Tống tên là Tào Thương được vua Tống sai đi sứ qua Tần, khi đi chỉ có năm cỗ xe, vua Tần bằng lòng ông ta lắm, cho một trăm cỗ. Về tới Tống, ông ta gặp Trang tử, bảo:

- Ở trong một đường hẻm trong một xóm nghèo khổ, quẫn bách tới nỗi phải bện dép để sống, đói tới nỗi cổ ngẳng, mặt xanh xao, đó là sở đoản của Thương tôi. Nhất đán gặp vua một nước vạn cỗ xe rồi được tặng một trăm cỗ xe, đó là sở trường của Thương tôi.

Trang tử đáp:

- Vua Tần bị bệnh, vời một y sĩ tới trị. Y sĩ mổ một cái nhọt lớn, vua Tần thưởng cho một cỗ xe; còn kẻ nào liếm trĩ ông thì ông thưởng cho năm cỗ xe. Việc càng đê tiện thì càng được thưởng nhiều. Phải ông trị bệnh trĩ cho vua Tần không, sao mà được thưởng nhiều xe như vậy? Thôi ông cút đi”.

Truyện đó đáng cho vợ con những kẻ giàu sang trong thời loạn suy gẫm.

Y như nọc rắn phun từ miệng Trang ra vậy. Ai bảo kẻ kia dám trêu ông, mỉa ông nghèo đói. Bình thường đối với hạng ham danh lợi đó, ông chỉ ôn tồn răn bảo, và luôn luôn dùng những ví dụ, những hình ảnh lạ để đập mạnh vào óc kẻ đối thoại, như trong bài XXXII.11:

“Một người lại bái kiến vua Tống, được ân tứ mười cỗ xe, đánh mười cỗ xe đó lại khoe Trang tử. Trang tử bảo:

- Trên bờ Hoàng Hà có một gia đình nghèo, sống nhờ nghề đan cỏ ngải. Một hôm một người con lặn xuống vực, vớt được một viên ngọc châu đáng giá ngàn vàng. Người cha bảo con: “Lấy một phiến đá đập bể nó đi! Một viên ngọc đáng giá ngàn vàng tất phải ở dưới cằm một con rồng đen trong một vực sâu chín đợt. Con lấy được nó chắc là trong khi con rồng đó ngủ; nó tỉnh dậy thì còn gì là đời con nữa!”. Nước Tống ngày nay còn sâu hơn cái vực chín đợt, mà vua Tống còn hung dữ hơn con rồng đen nữa. Chú được mười cỗ xe đó chắc là trong lúc ông ta ngủ; ông ấy mà tỉnh dậy thì tất chú bị nát thây mất”.

Một điểm đáng để ý nữa trong cá tính của Trang là vui sống. Trong Nội thiên có tới năm sáu lần ông cho được “hưởng hết tuổi trời” là một hạnh phúc lớn.

Bài XXVI.8 ông bảo:

“Nếu tự mình tự thích ý được thì đi đâu mà không thích ý? Nếu tự mình không thích ý được thì dù đi đâu cũng không thích ý được… Chỉ bậc chí đức là vui vẻ sống với người đồng thời mà không theo thành kiến của họ…”.

Bài đó do người đời sau viết, nhưng chúng ta có thể tin được là diễn đúng quan niệm của ông về nhân sinh.

Về quan niệm của ông đối với sinh tử, trong một chương sau, tôi sẽ xét kĩ, đây tôi chỉ xin dẫn ít cố sự cho thấy tin thần rất khoáng đạt của ông thôi.

Bài XVIII.2 rất nổi danh, được gọi là bài Trang tử cổ bồn, và tích Trang tử cổ bồn rất thường diễn trên sân khấu thời xưa. Bài đó như sau:

“Vợ Trang tử chết, Huệ tử lại điếu, thấy Trang tử ngồi xoạc chân ra, gõ nhịp vào một cái vò[7] mà hát, bèn bảo:

- Ăn ở với người ta, người ta nuôi con cho, nay người ta chết, chẳng khóc là bậy rồi, lại còn hát gõ nhịp vào cái vò, chẳng là quá tệ ư?

Trang tử đáp:

- Không phải vậy. Khi nhà tôi mới mất, làm sao tôi không thương xót? Nhưng rồi nghĩ lại thấy lúc đầu nhà tôi vốn không có sinh mệnh; chẳng những không có sinh mệnh mà còn không có cả hình thể nữa; chẳng những không có hình thể mà đến cái khí cũng không có nữa. Hỗn tạp ở trong cái khoảng thấp thoáng, mập mờ mà biến ra thành khí, khí biến ra thành hình, hình biến ra thành sinh mệnh, bây giờ sinh lại biến ra thành tử, có khác gì bốn mùa tuần hoàn đâu. Nay nhà tôi nghỉ yên trong cái “Nhà lớn” (tức trời đất) mà tôi còn ồn ào khóc lóc ở bên cạnh thì tôi không hiểu lẽ sống chết rồi. Vì vậy mà tôi không khóc”.

Tư tưởng trong bài này hợp với tư tưởng của Trang trong Nội thiên, nhưng tác giả chắc tưởng tượng thêm, cho Trang tử ngồi xoạc chân, gõ nhịp mà hát, để câu chuyện thêm hấp dẫn. Trang vốn coi sinh tử như nhau (tề sinh tử), chỉ là những biến hoá tự nhiên như trên cái vòng tròn, không phân biệt đâu là thuỷ, là chung vì “chung” của giai đoạn này cũng “thuỷ” của giai đoạn sau, vì vậy vợ chết Trang tử không thấy làm buồn mà khóc, nhưng tất cũng không lấy đó làm vui cho vợ, tới nỗi gõ nhịp mà ca hát[8].

Thú vị hơn nữa là bài XXXII.13 tả lúc Trang tử hấp hối: môn sinh bàn với nhau sẽ hậu táng. Ông nghe được bảo:

“- Đừng. Ta đã có trời đất làm quan quách, mặt trời mặt trăng làm ngọc bích, các tinh tú làm ngọc châu, vạn vật sẽ đưa ma ta, như vậy đồ táng ta chẳng đủ rồi sao? Còn phải thêm gì nữa?

Môn sinh đáp:

- Chúng con sợ quạ và diều hâu sẽ rỉa xác thầy.

Trang tử bảo:

- Tại trên mặt đất thì bị quạ và diều hâu rỉa, ở dưới đất thì bị kiến và sâu đục (đằng nào cũng vậy). Tại sao các con lại thiên vị, cướp của các loài trên mà cho các loài dưới?”

Tắt thở tới nơi mà ông lão tám chục tuổi đó còn dí dỏm được như vậy!

Những bài văn tả lúc chết của các triết gia lớn đều bất hủ, vì chứa những tư tưởng cao đẹp, mà lại cho ta hiểu rõ thêm chí hướng, tư cách tuyệt vời của họ.

Trong bộ Hương sắc trong vườn văn[9] chương XIII, tôi đã dịch đoạn chép lúc Socrate thản nhiên đưa chén thuốc độc lên uống một hơi, thấy đám môn sinh ròng ròng nước mắt, ông rầy: ‘Khóc lóc gì kì vậy? Thầy đã đuổi đàn bà ra khỏi là để tránh cái phiền đó vì thầy muốn được chết yên ổn. Thôi, bình tĩnh mà an mệnh cả đi”.

Trong cuốn Nhà giáo họ Khổng[10] tôi cũng đã thuật lại lúc Khổng tử biết mình sắp chết, than thở xã hội vẫn chưa hết loạn, rồi đây không còn ai thay mình được nữa.

Tôi xin dịch thêm dưới đây hai bài 5 và 6 chương Thái bá (Luận ngữ) lúc hấp hối của Tăng tử:

“Tăng tử đau nặng (sắp mất) cho gọi các đệ tử tới bảo: Dở tay ta ra xem, dở chân ta ra xem (có toàn vẹn không) nào. Kinh Thi có câu: “Phải nơm nớp, chăm chăm như xuống vực sâu, như đi trên giá mỏng”. Từ đây về sau ta mới biết chắc rằng ta giữ được (thân ta) khỏi các điều hư hỏng, tàn tật đó các trò”.

Rồi khi Mạnh Kính tử (một đại phu nước Lỗ) lại thăm, ông nói: “Con chim sắp chết thì kêu lên tiếng bi thảm, con người sắp chết thì thốt ra lời đạo đức. Bậc quân tử (người trị dân, trỏ Mạnh Kính tử) nên giữ được ba điều này: dong mạo đừng bạo ngược, ngạo mạn, nét mặt phải thành tín, ngay thật; lời nói đừng nên thô bỉ, bội nghịch…”.

Tăng tử không buồn vì sắp chết, nhưng chỉ là một nhà đạo đức mừng rằng suốt đời không mắc tội gì, đã giữ được trọn vẹn thân thể, không làm nhục cha mẹ; và còn chút hơi thở thì khi gặp dịp, ông còn khuyên người ta thành tín, khiêm tốn, nhã nhặn.

Khổng tử chí lớn hơn nhiều, muốn làm một nhà cải tạo xã hội, gắng sức suốt đời, nhưng xã hội vẫn loạn lạc, dân chúng vẫn điêu linh, nên ông buồn, không phải buồn cho ông mà buồn cho thiên hạ rồi đây sau khi ông mất, sẽ còn khốn khổ hơn nữa. Nhiệt tâm của ông lúc đó vẫn chưa tắt[11].

Socrate bình thản hơn; ông cũng muốn giúp nước nhưng kẻ cầm quyền không hiểu ông, bắt ông chết thì ông chết, mà ông không oán ai cả.

Trang tử khoáng đạt hơn cả, vui vẻ để cho quạ, diều rỉa xác. Ông còn mắng đùa môn sinh nữa. Và con người đó nghệ sĩ làm sao khi tưởng tượng đám tang của mình có trời đất làm quan quách, trăng sao làm châu ngọc, có vạn vật tiễn đưa. Thật là hoà đồng với vũ trụ. Trong văn học sử nhân loại, chắc không có đoạn văn thứ hai nào như bài XXXII.3 đó.

Trang tử vốn chủ trương không nên tranh biện, vì tranh biện thì kẻ thắng chưa nhất định là phải, kẻ thua không nhất định là trái; hơn nữa tranh biện không thuyết phục được ai cả, mà cũng không thể dùng ai làm trọng tài để phê phán ai phải ai trái được (bài II.12 – Tôi sẽ trở lại điểm này trong một chương sau). Vậy mà trong bộ Trang tử, chúng ta thấy có tới khoảng một chục chỗ Trang tranh biện với Huệ Thi. Chẳng hạn bài XXIV.5 Trang tử hỏi Huệ Thi:

“- Người bắn cung vô tình bắn trúng đích thì có thể gọi là thiện xạ rồi kết luận rằng mọi người đều là Hậu Nghệ (một người bắn rất giỏi thời thượng cổ) cả không?

Huệ tử đáp:

- Được.

Trang tử lại hỏi:

- Nếu trong thiên hạ không có chân lí chung cho mọi người mà ai cũng tự cho mình là nắm được chân lí, thì có thể bảo rằng mọi người đều là minh triết như vua Nghiêu được không?

Huệ tử đáp:

- Được.

Trang tử bảo:

- Vậy thì Nho, Mặc, Dương Chu, Công Tôn Long là bốn, với ông nữa là năm, nhà nào nắm được chân lí?

(…)

Huệ tử đáp:

- Nay các phái Nho, Mặc, Dương Chu và Công Tôn Long tranh biện với tôi, dùng lời lẽ công kích nhau, lớn tiếng áp đảo nhau, mà không ai bác bẻ được tôi, còn gì sướng cho bằng”.

Bài đó cho thấy Huệ Thi chỉ là một nhà nguỵ biện như Công Tôn Long (Chương XXXIII, bài 9 có chép mấy điều nguỵ biện của ông ta). Hai lần ông ta đáp bướng: “Được” – “Được”, lần cuối mới thú thực rằng tranh biện chẳng phải để tìm chân lí gì cả, mà chỉ cốt tìm cái vui là không ai bác bẻ được mình.

Rõ rằng hơn nữa là lần Trang và Huệ đấu khẩu với nhau về cái vui của cá (XVII.7):

“Trang tử cùng với Huệ tử đi dạo trên cầu sông Hào, Trang tử bảo:

- Đàn cá “du” (một loại cá trắng) kia thung dung bơi lội, đó là cái vui của cá.

Huệ tử bẻ:

- Ông không phải là cá, làm sao biết được cái vui của cá?

Trang tử đáp:

- Ông không phải là tôi, làm sao biết được rằng tôi không biết cái vui của cá?

- Tôi không phải là ông, dĩ nhiên tôi không biết được ông, nhưng ông không phải là cá thì hiển nhiên là ông không biết cái vui của cá.

Trang tử bảo:

- Xin trở lại câu hỏi đầu tiên. Ông hỏi tôi làm sao biết được cái vui của cá. Như vậy tức là ông nhận rằng tôi đã biết cái vui đó rồi (nên mới hỏi làm sao tôi biết được?). Làm sao biết tôi được ư? Thì đây: tôi đứng trên cầu sông Hào này mà biết được.

Có người giải thích bài này bảo Trang tử vì đồng hoá với vạn vật nên biết được cái vui của cá, còn Huệ tử thì không.

Tôi nghĩ ai nhìn cá thung thăng bơi lội dưới dòng hoặc nghe chim ríu rít hót trên cành thì cũng thấy vui và cho rằng chúng cũng vui. Tâm lí đó rất thông thường, chẳng cần chủ trương “vật hoá” như Trang mới có ý nghĩ đó. Có thể chính Huệ tử cũng thấy cá vui, mà chỉ bắt bẻ bạn để nghe cãi lí thôi. Và Trang đã cãi lí y như các nhà trong phái nguỵ biện. Nếu chỉ có một bài này, thì tôi có thể ngờ rằng do người đời sau bịa ra; nhưng còn bài XXIV.5 đã dẫn trên, và nhiều bài khác nữa, hai nhà tranh biện về lẽ vô dụng, hữu dụng (bài I.5, XXVI.7) hoặc thế nào là hữu tình, vô tình (V.6). Nhất là bài XXIV.6, xác nhận rằng Trang rất thích tranh biện với Huệ Thi, nên khi Huệ Thi mất rồi, Trang tiếc như tiếc một người tri kỉ.

Lần đó Trang đi qua ngang mộ Huệ tử, quay lại nói với người phía sau:

“Một người đất Dĩnh (nước Sở) đầu mũi dính một cục đất sét trắng lớn bằng cánh con ruồi, nhờ người thợ mộc tên là Thạch dùng lưỡi rìu đẽo đi. Thợ mộc Thạch múa rìu vù vù như tiếng gió, đẽo văng cục đất sét mà không đụng tới mũi, và người kia cũng không hề thất sắc – (Sức tưởng của Trang thật dồi dào, kì dị) – Vua Tống Nguyên Quân hay truyện đó, cho vời thợ mộc Thạch lại bảo: “Thử làm lại với quả nhân xem nào”. Thạch từ chối: “Thần đã làm được việc đó, nhưng đối thủ của thần chết đã lâu rồi”. – (Ý muốn nói Tống Nguyên Quân không thể bình tĩnh, can đảm như người đất Dĩnh kia được).

Rồi Trang tử kết: “Từ khi Huệ tử mất, đối thủ của tôi cũng chết rồi, tôi không còn ai để đàm luận nữa”.

Nhắc lại chuyện đó, nhiều tác giả như Hoàng Cẩm Hoành chỉ khen Trang tử là một người chí tình, đa cảm, thương tiếc bạn, mà không nhận ra rằng Trang cũng ham tranh biện lắm, sở dĩ thương tiếc bạn là vì mất một đối thủ để tranh biện.

Khía cạnh tính tình đó trái ngược với tư tưởng của Trang, nhưng dù là triết gia thì người ta vẫn có những nét mâu thuẫn như chúng ta – có lẽ triết gia còn có nhiều mâu thuẫn hơn chúng ta nữa – nên chúng ta không nên lấy làm lạ. Khổng tử suốt đời lo cải tạo xã hội, mà trong thâm tâm lại chỉ mong mùa xuân, dắt bọn trẻ đi tắm ở sông Nghi, rồi lên hứng mát ở đền Vũ Vu; tính tình rất nghiêm trang, đạo mạo mà có lúc lại nói đùa với môn sinh; dạy ba ngàn học trò mà có mỗi một cậu con trai thì lại không biết cậu đã học những gì. (J.J.[12] Rousseau tệ hơn nữa, viết một cuốn về giáo dục, cuốn Emile, mà con thì đã không dạy, cũng không nuôi).

Tóm lại, Trang tử có một cá tính rất phong phú, đặc biệt: khoáng đạt, xuất thế, - sống bình dị, yêu tự do, nhàn tản, tiêu dao, ông cao ngạo, không coi vua chúa ra gì cả, kẻ nào làm trái ý ông, nhất là hay khoe khoang thì ông không giữ lời, mắng cho tàn nhẫn, nhưng ông cũng có giọng trào phúng, đùa cợt; tranh biện với ai thì ông rất lanh trí, hoạt bát, sức tưởng tượng của ông thiên biến vạn hoá, tạo ra những ngụ ngôn kì dị, khiến đối phương lúng túng, không sao thắng được ông, về phương diện đó ông thực là một thiên tài. Ông trái hẳn với Mạnh tử: Mạnh là một chính trị gia hơn là một triết gia, Trang là một nghệ sĩ hơn là một triết gia; Mạnh là một đại trượng phu giữ đúng nguyên tắc, Trang là một ẩn sĩ, không coi cái gì là quan trọng trừ sự tự do, sống theo sở thích của mình.

Đó là chân dung của Trang theo những cố sự trong Trang tử. Những cố sự đó chỉ đáng tin một phần thôi, vì do nhiều người đời sau ghi lại – những người này không phải hết thảy là môn sinh của Trang – mãi tới đời Hán mới được thu thập thành sách lưu truyền đến nay như chương sau chúng ta sẽ thấy.

Trang Tử và Nam Hoa Kinh

Giới thiệu và chú dịch: Nguyễn Hiến Lê

Lời thưa trước


trangtu.jpg



PHẦN NHẤT: TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

CHƯƠNG I: Thời đại và đời sống

Thời đại

Đời sống

CHƯƠNG II: Tác phẩm

Xuất hiện từ thời nào?

Nội thiên

Ngoại và thiên và Tạp thiên

CHƯƠNG III: Văn bộ Trang tử

Ưu điểm

Nhược điểm

Một số nhà chú giải

Cách đọc Trang tử



CHƯƠNG IV: Học thuyết của Trang

Uyên nguyên từ đâu?

Vũ trụ luận và căn bản luận

Tri thức luận

Chính trị luận

Nhân sinh quan

KẾT



PHẦN NHÌ: NỘI THIÊN

Chúng tôi dịch ra sao

CHƯƠNG I: Tiêu dao du

Nhận định



CHƯƠNG II: Tề vật luận

Nhận định



CHƯƠNG III: Dưỡng sinh chủ

Nhận định



CHƯƠNG IV: Nhân gian thế

Nhận định



CHƯƠNG V: Đức sung phù

Nhận định



CHƯƠNG VI: Đại tôn sư

Nhận định



CHƯƠNG VII: Ứng đế vương

Nhận định



PHẦN BA: NGOẠI THIÊN

CHƯƠNG VIII: Biền mẫu

CHƯƠNG IX: Mã đề

CHƯƠNG X: Khư khiếp

CHƯƠNG XI: Tại hựu

Nhận định về bốn chương



CHƯƠNG XII: Thiên địa

CHƯƠNG XIII: Thiên đạo

CHƯƠNG XIV: Thiện vận

Nhận định về ba chương

CHƯƠNG XV: Khắc ý

CHƯƠNG XVI: Thiện tính

Nhận định về hai chương



CHƯƠNG XVII: Thu thuỷ

Nhận định



CHƯƠNG XVIII: Chí lạc

Nhận định



CHƯƠNG XIX: Đạt sinh



CHƯƠNG XX: Sơn mộc

Nhận định về hai chương



CHƯƠNG XXI: Điền Tử Phương

Nhận định



CHƯƠNG XXII: Trí Bắc du

PHẦN TƯ: TẠP THIÊN

CHƯƠNG XXIII: Canh Tang Sở

Nhận định về hai chương



CHƯƠNG XXIV: Từ Vô Quỉ

CHƯƠNG XXV: Tắc Dương

Nhận định



CHƯƠNG XXVI: Ngoại vật

Nhận định




CHƯƠNG XXVII: Ngụ ngôn

CHƯƠNG XXVIII: Nhượng vương

Nhận định



CHƯƠNG XXIX: Đạo Chích

Nhận định



CHƯƠNG XXX: Thuyết kiếm

Nhận định



CHƯƠNG XXXI: Ngư phủ

Nhận định



CHƯƠNG XXXII: Liệt Ngự Khấu

Nhận định về hai chương



CHƯƠNG XXXIII

Nhận định




Phụ lục: Những biến cố lớn xảy ra trong đời Trang tử

Vài lời thưa trước

Trước ngày 30-04-1975, cụ Nguyễn Hiến Lê đã có một trăm tác phẩm được xuất bản và mười tác phẩm khác chưa in: Tôi tập viết tiếng Việt, Đời nghệ sĩ, Con đường thiên lí, Một mùa hè vắng bóng chim, Những quần đảo thần tiên, Gogol, Tourguéniev, Tchékhov, Lịch sử văn minh Trung Quốc, Trang tử. Mười tác phẩm đó được cụ đã giới thiệu sơ lược trong Hồi kí (Phần VI: Từ ngày giải phóng (1975-81), chương XXXIII: Lại tiếp tục viết, mục Sửa lại bản thảo chưa in); riêng cuốn Trang tử cụ viết như sau:

“Trang tử có địa vị rất lớn trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc, ngang với Mạnh tử, hơn Tuân tử, hơn cả Mặc tử nữa. Nhờ ông một phần lớn mà tư tưởng của Lão tử mới được phổ biến mạnh: chỉ giới trí thức mới quí những cách ngôn trong Đạo Đức kinh, còn giới bình dân thì ai cũng biết ít nhiều những ngụ ngôn của Trang tử. Tên ông gắn liền với tên của Lão tử và cả hai có công làm cho dân tộc Trung Hoa bớt thực tiễn, yêu thiên nhiên, tự do hơn, khoan dung hơn, khoáng đạt hơn… thơ văn cũng như hội hoạ từ Lục triều trở đi, nhất là dưới đời Tống đều mang dấu vết của Trang[1].

Ở nước ta ông Nguyễn Duy Cần đã giới thiệu học thuyết của Trang, nhưng chỉ dịch ít chương trong Nội thiên, Nội thiên và Tạp thiên[2]; lại không đặt chân nguỵ của những thiên đó, cho nên cho nên gán cho ông vài tư tưởng không thực của ông. Ông nhằm mục đích phổ thông hơn khảo cứu.

Người đầu tiên nêu ra vấn đề chân nguỵ trong bộ Trang tử (cũng có tên là Nam Hoa Kinh[3]) là Tô Đông Pha đời Tống. Sau ông, số học giả nghi ngờ sự nguỵ tác trong Trang tử càng ngày càng nhiều. Đại khái ngày nay ai cũng nhận rằng Nội thiên là của Trang tử (trừ một số bài), còn Nội thiên và Tạp thiên là của người đời sau.

Tôi kiếm được năm bản Trang tử, quan trọng nhất là Trang tử toản tiên của Tiền Mục, Tân dịch Trang tử độc bản của Hoàng Cẩm Hoành (1974) và L’œuvre complète de Tchouang-tseu của Liou Kia - hway (1969); dịch tất cả các chương trong Nội thiên, Nội thiên, Tạp thiên, không bỏ một bài nào; cuối mỗi chương đưa ra nhận định của các học giả gần đây, và một số nhận định của tôi về chân, nguỵ; nếu là nguỵ tác thì người viết thuộc về phái nào: chẳng hạn phái quá khích của Lão giáo, phái ôn hoà của Lão giáo, phái theo Trang, phái theo Khổng, phái theo Đạo gia (tu tiên) hay Pháp gia…

Tôi chỉ dùng những chương chắc chắn của Trang để phân tích tư tưởng của Trang, rán không gán cho Trang những tư tưởng của người sau. Cuối cùng tôi chỉ cách nên đọc Trang ra sao.

Tác phẩm khá dày: trên 500 trang (riêng phần giới thiệu trên 300 trang)[4]. Và có thể coi là công trình đầy đủ nhất về Trang tử từ trước tới nay, tiếc là chưa in được” (Hồi kí Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn học, 1993, trang 537-538).

Tuy bảo là “dịch tất cả các chương trong Nội thiên, Nội thiên, Tạp thiên, không bỏ một bài nào”, điều này cũng được nói đến trong lời giới thiệu ngắn ở đầu bộ Trang tử; nhưng vì trong Ngoại thiên và Tạp thiên có nhiều bài chép từ bộ Liệt tử và Dương tử (cụ gọi tắt là Liệt tử) mà cụ đã chú dịch và cho xuất bản trước 1975, nên các bài tương ứng trong bộ Trang tử này, cụ đã lược bỏ, không chép lại, như: Đạt sinh 3, Đạt sinh 9, Sơn mộc 9, Trí Bắc du 4, Từ Vô Quỉ 7, Ngụ ngôn 7, Nhượng vương 6. Ngược lại, có bài cụ không dịch trong Liệt tử lại được cụ dịch trong bộ Trang tử như truyện người say rượu té xe trong bài Đạt sinh 2, truyện luyện gà đá trong bài Đạt sinh 8... Như vậy, người đọc muốn đọc được các bài hoặc các đoạn bị lược bỏ trong bộ này thì phải tìm trong bộ kia và ngược lại. Cũng có bài, như bài Liệt Ngự Khấu 1, cụ đã dịch trong Liệt tử nhưng ở đây cụ “dịch lại để sửa vài chữ”.

Về việc dịch lại, tuy cụ Nguyễn Hiến Lê không nói ra, nhưng tôi thấy có nhiều câu trong bộ Trang tử này không giống với những câu tương ứng đã được cụ và cụ Giản Chi dịch trong bộ Đại cương triết học Trung Quốc (ĐCTHTQ) từ năm 1962-63[5]. Ví dụ hai câu: “Sát sinh dã bất tử. Sinh sinh giả bất sinh”, trong ĐCTHTQ dịch là: “Cái giết được cái sống thì cái đó không chết. Cái sinh ra được cái sinh ra thì cái đó chính nó không từ đâu sinh ra” (bản của Nxb Thanh Niên, 1994, Tập 1, trang 181), trong Trang tử (bài Đại Tôn sư 2) dịch là: Bậc chủ tể giết sinh mệnh thì không chết, bậc đó sinh ra sinh mệnh mà cũng lại không sinh (nghĩa là không có cái gì sinh ra cả)”. Một ví dụ khác, câu “Chiêu ư minh minh, hữu luân sinh ư vô hình”, sách trước dịch là: “Cái sáng láng sinh ra từ cái mịt mờ, cái có loại (tức vật hữu hình) sinh ra từ cái vô hình” (Sđd, Tập 1, trang 183); sách sau dịch là: “Cái sáng sủa phát sinh từ cái tối tăm; cái hữu hình phát sinh từ cái vô hình” (Trí Bắc du 5).

Nhờ soạn bộ ĐCTHTQ mà cụ Nguyễn Hiến Lê đã “nhân cái đà đó tiến sâu thêm về Trung triết… mà viết được trên mười cuốn nữa”, trong đó có bộ Trang tử này.

Trong Trang tử, phần Nội thiên, Ngoại thiên và Tạp thiên, cụ Nguyễn Hiến Lê không chép nguyên tác chữ Hán lẫn phiên âm; và trong phần chú thích, cụ cho biết: “nếu thấy cần, sẽ chép thêm nguyên văn phiên âm (chứ không có chữ Hán vì công việc ấn loát lúc này khó khăn và tốn kém)”[6]. Do không có chữ Hán, nên trong quá trình gõ, khi gặp những chỗ ngờ in sai, hoặc có sự khác biệt với bản Nguyễn Duy Cần, tôi phải tra cứu các trang web chữ Hán để, nếu sai thì ghi thêm vào chú thích, và nếu thấy cần tôi chép thêm chữ Hán vào để chúng ta cùng tham khảo.

Ngoài ra, tôi còn chép thêm:

Phụ lục I: Những biến cố lớn xảy ra trong đời Trang tử.

Phụ lục II: Các bài trong bộ Liệt tử tương ứng với các cụ Nguyễn Hiến Lê lược bỏ, không dịch lại trong bộ Trang tử.

Trong thời gian chỉnh sửa và bổ sung chữ Hán cho bản đánh máy tác phẩm Trang Tử - Nam Hoa Kinh (Phần Thượng) của Nguyễn Duy Cần (bản đánh máy do bạn Fatman1702 cung cấp); và thực hiện ebook Trang tử và Nam Hoa kinh của Nguyễn Hiến Lê này, bác Vvn đã nhiệt tình giải đáp giúp tôi rất nhiều nghi vấn; một phần nhỏ những giải đáp đó, tôi có ghi lại trong chú thích. Ngoài ra, bác Vvn còn giúp tôi sửa lỗi ebook này nữa. Xin chân thành cảm ơn bác Vvn.

Nhờ sửa lỗi, rồi sau đó bổ sung phần chữ Hán cho bản đánh máy do bạn Fatman1702 cung cấp như đã nói ở trên, tôi mới có dịp đọc lại cuốn Trang tử của Nguyễn Hiến Lê mà tôi đã đọc từ năm 1996; và nhân đó tôi gõ phần I: Nội thiên để chúng ta có thể so sánh hai bản dịch của hai cụ Nguyễn, mà theo lời cụ Nguyễn Hiến Lê thì: “Trước chúng tôi đã có hai bản Tuyển dịch Trang tử (tức một của Nhượng Tống và một của Nguyễn Duy Cần). Sau chúng tôi chắc sẽ còn nhiều người dịch nữa, mà bản dịch nào cũng sẽ có nhiều chỗ không giống các bản khác… Tôi mong độc giả hiểu cho lẽ đó mà coi bản của chúng tôi may mắn lắm là có giá trị ngang các bản khác thôi”. Ban đầu tôi chỉ mong gõ xong phần I thôi, nhưng rồi lần hồi tôi cũng gõ được trọn bộ Trang tử của cụ Nguyễn Hiến Lê. Xin cảm ơn bạn Fatman1702; và xin hân hạnh được chia sẻ cùng các bạn ebook này.


Goldfish – Mùa hè 2009

Chú thích:

[1] Cũng trong Hồi kí, cụ cho biết thêm: “Có thể như Lâm Ngữ Đường nói, nhờ Lão Trang dân tộc Trung Hoa tuy nghèo khổ mà vẫn yêu đời, tinh thần được quân bình không thác loạn như người Âu giàu gắp 10, gắp 100 họ”. [Goldfish].

[2] Trong bộ Trang tử - Nam Hoa kinh gồm hai tập (về sau gọi tắt là bản Nguyễn Duy Cần), cụ Nguyễn Duy Cần chỉ dịch 6 thiên trong Nội thiên (bỏ thiên Nhân gian thế), còn Ngoại thiên và Tạp thiên cụ chỉ “trích yếu” mà thôi. Ngoài bộ đó, cụ còn có cuốn Trang tử tinh hoa. [Goldfish].

[3] Có người cho rằng: theo Từ điển Thành ngữ Trung Quốc thì Nam Hoa là tên một hòn núi ở Tào Châu thuộc nước Tống thời xưa. Tương truyền rằng, khi Trang Tử đến ở ẩn nơi chân núi Nam Hoa, ông đem hết tinh hoa của Đạo giáo của Lão Tử viết thành bộ sách, lấy tên núi Nam Hoa mà đặt, gọi là Nam Hoa kinh, đời sau người ta gọi là "sách Trang Tử". [Goldfish].

[4] Bản của Nxb Văn hoá - Thông tin năm, 1994: khoảng 560 trang, phần Giới thiệu tác giả và tác phẩm khoảng 130 trang. [Goldfish]

[5] Bộ này gồm 2 quyển, do nhà Cảo Thơm xuất bản: quyển Thượng in năm 1965, quyển Hạ in năm 1966. Bản của nhà Thanh Niên xuất bản in Quí 3 năm 1994, cũng gồm 2 quyển, gọi lại Tập 1 và Tập 2. [Goldfish]

[6] Trong sách chỉ có 3 chữ Hán: Hưu 休, Mộc 木, Mạc 莫 in trong Phần I, tiểu mục Đời sống (của Trang tử) [Goldfish].

Nguồn http://vnthuquan.net/

Tuesday, December 29, 2009

Trung Quốc tìm thấy mộ thật của Tào Tháo

(Dân trí) - Các nhà khảo cổ học Trung Quốc tin rằng họ đã tìm thấy lăng mộ gần 1.800 năm tuổi của Tào Tháo - nhà chính trị, nhà quân sự lỗi lạc và cũng nhà thơ lớn thời Tam Quốc.

Lối vào lăng mộ được tin là của Tào Tháo.

Lăng mộ được phát hiện tại làng Xigaoxue thuộc thành phố An Dương, tỉnh Hà Nam ở miền trung Trung Quốc. Nó nằm gần khu di tích tại Lạc Dương, nơi Tào Tháo đã cai trị nước Ngụy từ năm 208 cho đến năm 220 khi ông qua đời ở tuổi 65.

“Công tác khai quật đã diễn ra gần 1 năm nay và chúng tôi sẽ còn phát hiện thêm các bằng chứng. Nhưng dựa vào những gì mà chúng tôi đã thu được, chúng tôi có thể nói chắc chắn rằng lăng mộ đó thuộc về Tào Tháo”, tờ China Daily dẫn lời quan chức Guan Qiang từ Ban di sản văn hóa quốc gia Trung Quốc, cho biết.

Bên trong lăng mộ của Tào Ngụy.
Nhiều đồ vật được tìm thấy trong lăng mộ được miêu tả là các vật dụng cá nhân mà Tào Tháo từng sử dụng.

Các nhà khảo cổ đã phát hiện quan tài của 3 người trong lăng mộ - một của người đàn ông khoảng 60 tuổi, được tin là Tào Tháo; một của phụ nữ khoảng 50 tuổi và người phụ nữ thứ 2 trong độ tuổi từ 20-25, được cho vợ của Tào Tháo và cô người hầu.

Một tấm bia đá khắc dòng chữ "Ngụy Vương" (tức Tào Tháo).
Lăng mộ được phát hiện khoảng 1 năm về trước nhưng chỉ được các nhà chức trách chú ý sau khi những phiến đá khắc các chữ “Ngụy Vương” (tức Tào Tháo) được tịch thu từ những kẻ trộm lăng mộ.

Cho tới nay, các nhà khảo cổ đã phát hiện hơn 250 di vật từ ngôi mộ nằm trên diện tích rộng 740 m2, một khu vực thích hợp là nơi chôn cất cho một người có tầm cỡ như Tào Tháo.

Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy 59 đĩa đá trên đó khắc tên và số lượng của các đồ vật được chôn trong mộ. 7 chiếc đĩa khác khắc tên của các vũ khí mà "Ngụy Vương” thường sử dụng. Một số lượng lớn các bức tranh khắc họa trên các đĩa đá hiện chưa được khai quật.

Vài đồ trang trí bằng đá mã não được tìm thấy trong lăng mộ.
Tào Tháo viết trong di chúc rằng ông muốn một nơi chôn cất đơn giản. Điều này phù hợp với sự thật là những bức tường bao quanh lăng mộ không được tô vẽ và không nhiều vật dụng quý được tìm thấy trong mộ. Vị trí của lăng mộ cũng phù hợp với các ghi chép lịch sử và các cuốn sách cổ từ thời Tào Tháo.

Lăng mộ đã bị bọn trộm đột kích vài lần trước khi các nhà khảo cổ bắt đầu khai quật nó vào tháng 12/2008. Cảnh sát đang cố gắng tìm kiếm và thu hồi những đồ vật đã bị đánh cắp.

Chính quyền An Dương và Hà Nam đang có kế hoạch mở cửa lăng mộ để công chúng vào thăm.

Một tấm bia đá với các nét chạm khắc mô phỏng cuộc sống tại Trung Quốc cách đây gần 2.000 năm.
Tào Tháo (155-220) là một nhà chính trị lỗi lạc và nhà quân sự có tài. Ông đã lập nên nước Ngụy (với kinh đô ở Lạc Dương) - một trong 3 quốc gia thời Tam Quốc trong lịch sử Trung Hoa. Ngoài ra, ông còn là một nhà thơ kiệt xuất. Hiện một số bài thơ của ông vẫn được đưa vào sách giáo khoa dành cho học sinh trung học Trung Quốc.
Lịch sử Trung Quốc vốn có nhiều truyền thuyết về lăng mộ Tào Tháo, đặc biệt là truyền thuyết “72 ngôi mộ giả” được nhiều thế hệ người Trung Quốc truyền tụng. Vốn là người đa nghi, Tào Tháo đã tạo 72 ngôi mộ giả để tránh bị đào mồ. Hài cốt thực của Tào Tháo chôn ở đâu xưa nay vẫn là một bí ẩn. Tuy nhiên, những phát hiện mới nhất đã giúp vén màn bí ẩn lịch sử.

An Bình
Theo Xinhua, Dailyma